Nếu đời Trần có một bảng xếp hạng những cây bút đáng gờm nhất, Trương Hán Siêu chắc chắn sẽ phải ngồi hàng đầu. Thậm chí, chỉ riêng một “Bạch Đằng giang phú” thôi cũng đủ để ông ngồi rất vững trong lịch sử văn học Việt Nam.Trong “Bạch Đằng giang phú”, sông Bạch Đằng là chứng nhân từng nhìn thấy chiến thuyền, cọc gỗ, giáo mác, máu lửa, và cả những trận đánh làm xoay chuyển vận nước. Nhưng cái hay của Trương Hán Siêu là để cho dòng sông, cảnh vật,      lời các bô lão lần lượt cất tiếng. Đó mới là cái đáng nể.

“Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều

Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều

Bát ngát sóng kình muôn dặm

Thướt tha đuôi trĩ một màu

Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu”

Văn chương khác của ông cũng cho thấy một khí chất rất riêng: câu chữ chắc, hình ảnh rộng, nhịp điệu có độ ngân. Trong bài “Dục Thúy Sơn”, người ta lại thấy một Trương Hán Siêu nhàn tản, chiêm nghiệm trước núi non, danh lợi và cõi đời.

“DỤC THÚY SƠN

Sơn sắc thượng y y,

Du nhân hồ bất quy?

Trung lưu quang tháp ảnh,

Thượng giới khải nham phi.

Phù thế như kim biệt,

Nhàn danh ngộ tạc phi.

Ngũ hồ thiên địa khoát,

Hảo phỏng cựu ngư ky.”

Nói ngắn gọn: viết như ông, đời có mấy ai so bì!

***

Thế nhưng, đời mà. Người viết văn hay chưa chắc đã làm quan trơn tru.

Trương Hán Siêu là người học rộng, được trọng dụng qua nhiều triều vua nhà Trần. Sử sách ghi ông làm quan trải bốn triều: Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Hàn lâm học sĩ, Hành khiển, Tả gián nghị đại phu, Tham tri chính sự. Tức là về lý lịch quan trường, ông là hàng trụ cột quốc gia, ai dám cả gan xem thường. Nhưng cũng con người ấy lại để lại vài giai thoại khiến người đời sau đọc đến phải khựng lại một nhịp.      

Như một lần, khi ông còn giữ chức Hành khiển (vào năm Bính Dần, 1326, thời vua Trần Minh Tông), được sách “Đại Việt sử ký toàn thư” (bản kỷ, quyển 6, tờ 44b) ghi lại như sau:

“Một hôm, Siêu nói trong triều rằng Hình quan Phạm Ngộ và Lê Duy ăn hối lộ. Vua lập tức sai điều tra. Hán Siêu bèn nói kín với người khác rằng, tôi làm việc ở chính phủ, được Chúa thượng tin dùng cho nên mới nói thế, biết đâu lại có chuyện tra xét này. Vua nghe vậy liền nói, Hành khiển là quan ở sảnh, Thẩm hình là quan ở viện, ta đều tín nhiệm cả, sao lại làm ta tin quan sảnh mà ngờ quan viện? Đến khi tra xét, Hán Siêu đuối lý, phải phạt 300 quan tiền”.

Câu chuyện này làm chân dung Trương Hán Siêu bỗng bớt trơn tru. Ở đây, ta thấy một người có thể rất thẳng, rất ghét điều sai, nhưng thiếu một bước cực kỳ quan trọng của nghề làm quan: nói gì cũng phải có chứng cứ đủ chắc. Quan trường khác văn chương ở chỗ, văn có thể bay bổng, buộc tội thì phải đúng sự thật. Nói sai trong bài phú, cùng lắm bị người đời chê vụng. Nói sai giữa triều đình thì có thể mất danh dự, mất chức, thậm chí mất cả mạng. Thế nên lỗi của Trương Hán Siêu trong chuyện này     .

Thế là vì chuyện này, bậc đồng liêu là quan Tông chính Đại khanh Lê Cư Nhân vẫn gọi mỉa ông là:

“chân đá cầu nhà quê, ý rằng ông xét việc cũng như người nhà quê đá cầu, ít khi nào trúng.”

Nguyễn Khắc Thuần trong “Việt sử giai thoại” còn bàn khá chát:

“Phát ngôn bừa bãi đã là tội lớn, lợi dụng sự tin cẩn để phát ngôn bừa bãi rồi đang không vu hãm người thì tội lại càng lớn hơn. Lê Cư Nhân gọi ông là chân đá cầu nhà quê, ắt có chỗ lầm lẫn, bởi trong việc này, Hán Siêu không đá cầu mà đá vào chân người đang đá cầu vậy. Ôi, sự dại dột này đâu phải chỉ trả giá bằng ba trăm quan tiền? Chừng như danh thơm một đời ông dày công tạo lập cũng đã bị mất bớt đi một phần rất đáng kể rồi. Tiếc thay!”

Một người càng được tin dùng thì lời nói càng có trọng lượng. Lời nói càng có trọng lượng thì càng không thể tiện miệng.

***

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào vài chuyện như thế rồi kết luận rằng Trương Hán Siêu “giỏi văn, dở quan” từ đầu đến cuối thì lại hơi oan cho ông. Lịch sử lắc léo hơn một đoạn bình luận ngắn. Một con người sống trong triều chính, lại sống qua nhiều đời vua, được giao nhiều trọng trách, hậu thế chúng ta nên nhìn ông một cách công tâm và rộng rãi hơn so với việc chỉ khoét vào một giai thoại bị phạt tiền.

Đương thời, Trương Hán Siêu nổi tiếng là người tài, nhưng cũng khó hòa vào đám đông. Có chuyện ông bị chê cao ngạo, ít giao du với người cùng hàng. Có chuyện ông bị dị nghị vì những ứng xử không vừa mắt người đời. Lại có chuyện ông gả con gái cho các tù trưởng ở vùng mình trông coi, khiến có người nhìn ông bằng ánh mắt nghi ngại.

Nhưng nếu nhìn kỹ hơn theo cả diện lịch sử rộng, câu chuyện lại phức tạp hơn nhiều. Chuyện ông ít giao du, theo một số giai thoại, gắn liền với các mối quan hệ phức tạp giữa các cá nhân đương thời. Những người cùng hàng với ông trước đó từng học chung dưới trướng Trần Ích Tắc, nhân vật vốn mang nhiều tai tiếng trong sử Trần. Thậm chí có người từng đứng về phía bất lợi cho ông khi ông gặp tai họa phải bỏ chạy. Sau này, ông không truy cứu, nhưng cũng không mặn mà kết thân. Nói cho công bằng, như thế chưa chắc là cao ngạo. Có khi chỉ là kiểu người từng bị va đập rồi tự biết giữ khoảng cách.

Còn chuyện gả con cho tù trưởng vùng biên, trong bối cảnh thời Trần, quan hệ với các thủ lĩnh địa phương là chuyện lớn. Vùng biên nào chỉ cần quân lính, mà còn cần liên kết, ràng buộc, tạo thế phên giậu. Hôn nhân là chính sách “nhu viễn” linh hoạt của các triều Lý – Trần để ràng buộc quan hệ chính trị, làm mềm những vùng đất dễ động, giữ cho biên cương bớt bất ổn.

Vậy nên, có những điều nhìn từ xa tưởng lệch, đặt lại vào đúng thời của nó mới thấy có lý.

Trương Hán Siêu, ông đôi lúc khiến chúng ta cảm thấy bị trật nhịp, nhưng cũng đừng quá bám vào một chuyện lỡ lời của ông mà cho danh tiếng ông bị biến dạng trong mắt hậu thế.      

Thôi thì nhân vô thập toàn. Ở đời, vụng một chút chỗ này cũng chẳng sao.

Ngô Tiến Vinh