Có những câu phê bình văn học giống như ném một hòn đá xuống mặt hồ đang yên. Sóng lan rất lâu. Người nghe ban đầu giật mình. Người đọc về sau vẫn còn nhíu mày. Còn giới nghiên cứu thì có thêm một chuyện để tranh luận, nhắc lại, rồi nhắc lại nữa. Trong lịch sử người Việt đọc và hiểu Truyện Kiều, từng có một câu sấm sét như vậy:
“Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh!”.
Chỉ riêng việc đặt hai chữ “Nguyễn Du” cạnh mấy chữ “bệnh thần kinh” đã đủ làm người yêu Kiều thấy nghẹn. Nguyễn Du, với người Việt, đâu chỉ là một thi hào. Ông gần như một phần ký ức văn hóa dân tộc. Người ta đọc Kiều để bói, để lẩy, để than, để nhớ, để soi thân phận con người. Thế mà bỗng có một nhà phê bình đứng ra nói: đằng sau tiếng thơ ấy là một tâm hồn có bệnh. Nghe vậy, thi đàn làm sao ngồi yên được?
***
Câu chuyện ấy diễn ra vào khoảng đầu thập niên 1940. Người đưa ra nhận định gây chấn động là Trương Tửu, khi ấy thường ký bút danh Nguyễn Bách Khoa. Ông sinh ngày 18 tháng 10 năm 1913, mất ngày 16 tháng 11 năm 1999 tại Hà Nội. Ông là một trong những gương mặt đặc biệt của đời sống văn học Việt Nam thế kỷ XX: nhà văn, nhà phê bình, nhà giáo, người làm báo, và cũng là một trí thức tự học rất mạnh. Về sau, cuộc đời ông trải qua nhiều khúc quanh dữ dội. Tên tuổi ông gắn với những tranh luận không nhỏ của văn nghệ Việt Nam hiện đại. Còn ở đầu thập niên 1940, Trương Tửu đang hiện ra như một cây bút phê bình trẻ, sắc, hăng, có tham vọng, và đặc biệt thích đi vào những vấn đề lớn.
Trước khi gây bão với nhận định về Nguyễn Du, Trương Tửu đã sớm viết văn, viết báo, làm phê bình, tham gia vào những môi trường văn hóa có tham vọng đổi mới học thuật. Giai đoạn ấy, ông gắn với nhóm Hàn Thuyên và nhà xuất bản Hàn Thuyên, nơi quy tụ một số trí thức muốn đem tinh thần nghiên cứu mới vào đời sống văn chương Việt Nam. Nói cách khác, Trương Tửu bước vào cuộc tranh luận về Truyện Kiều với tư thế của một người có chuẩn bị, có đọc, có hệ thống, và rất tự tin vào ngòi bút của mình.
Điều đáng chú ý hơn nữa là Nguyễn Du và Truyện Kiều không phải đề tài Trương Tửu ghé qua cho vui. Ngay từ năm 1931, ông đã có bài “Triết lý Truyện Kiều” đăng trên Đông Tây tuần báo. Đến năm 1941, ông viết “Nguyễn Du và Truyện Kiều”. Năm 1944, ông tiếp tục với “Văn chương Truyện Kiều”. Sau này, năm 1956, ông còn trở lại đề tài ấy trong “Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du”. Chỉ riêng chuỗi tác phẩm ấy đã cho thấy Truyện Kiều là một ám ảnh học thuật dài hơi trong đời cầm bút của Trương Tửu.
Vì thế, khi Trương Tửu đưa ra nhận định “Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh”, cho rằng Truyện Kiều là kết tinh của “3 yếu tố suy đồi” là “sinh hoạt cằn cỗi và sáo loạn, một tư tưởng hèn nhát và ủy mị, một tâm lý tùy thời và ích kỷ”, chúng lập tức có sức nổ dữ dội. Nó đến từ một nhà phê bình đang có tên tuổi, đang muốn lập thuyết, tham vọng đem một cách đọc mới áp vào tác phẩm lớn nhất của văn học Việt Nam trung đại. Chính điều đó làm câu chuyện trở nên phức tạp. Nếu chỉ là một lời xúc phạm tùy tiện, người đời có thể bỏ qua. Nhưng khi nó được đặt trong một công trình nghiên cứu, dưới danh nghĩa phê bình văn học, thì thi đàn không thể coi như chưa nghe thấy.
Và từ đây, câu hỏi lớn bắt đầu hiện ra: Trương Tửu đã dựa vào đâu để đi đến một nhận định nặng nề như vậy?
***
Từ trước đó, người Việt yêu Kiều theo một lối rất riêng, đậm tinh thần truyền thống. Có người xem Kiều là áng văn chương tuyệt bút. Có người xem Kiều là tiếng khóc cho thân phận người phụ nữ. Có người bàn chữ nghĩa, vần điệu, điển tích, nhân vật. Có người đọc Kiều để soi đời, bói phận, tìm một câu ứng với cảnh ngộ riêng của mình. Truyện Kiều vì thế vừa là văn chương, vừa là ký ức, vừa là một tiếng nói thân mật trong đời sống người Việt:
“Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thuý Vân, Thuý Kiều”
Còn Trương Tửu muốn đưa cách đọc Kiều rẽ sang một hướng khác. Ông muốn hỏi sâu hơn: vì sao Nguyễn Du lại viết như thế? Vì sao Truyện Kiều u buồn đến thế? Vì sao tiếng thơ ấy cứ quẩn quanh với đau khổ, đoạn trường, nước mắt, bóng chiều, nấm mồ, oan hồn và những thân phận bị vùi dập? Nói cách khác, ông không bằng lòng với việc ngắm ánh sáng trên mặt nước. Ông muốn lặn xuống tận đáy hồ, xem dòng nước ấy chảy từ đâu. Với Trương Tửu, văn bản là một hiện tượng có nguyên nhân, có quan hệ, có thể đem ra khảo sát bằng lý trí.
Chính vì vậy, khi đi vào Nguyễn Du, Trương Tửu đem theo nhiều “dao mổ” của các ngành khoa học xã hội phương Tây đang có ảnh hưởng mạnh thời ấy: tâm lý học, phân tâm học, bệnh lý học, xã hội học văn học, cùng lối phê bình văn hóa – lịch sử mới. Mỗi tầng lý thuyết giúp ông nhìn Truyện Kiều từ một phía khác nhau.
Tầng thứ nhất là tâm lý học và phân tâm học: Trương Tửu muốn lần vào “cá tính Nguyễn Du”. Với ông, cá tính nhà thơ là chiếc chìa khóa để mở Truyện Kiều. Một tác phẩm buồn đến thế, ám ảnh đến thế, nặng tiếng khóc đến thế, theo ông, không thể chỉ được giải thích bằng cốt truyện vay mượn từ Kim Vân Kiều truyện, cũng không thể chỉ quy về tài dùng chữ của Nguyễn Du. Nó phải liên quan đến chính con người Nguyễn Du, đến cách nhà thơ cảm nhận thế giới. Trong cách nhìn ấy, Nguyễn Du hiện ra như một người quá nhạy cảm, dễ rung động trước đau khổ, dễ bị ngoại giới làm tổn thương, dễ biến nỗi khổ của người khác thành nỗi khổ của chính mình. Trương Tửu gọi đó là một thứ “đa sầu đa cảm”. Đây là bước đầu trong lập luận của ông. Rất tương ứng với câu “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, Truyện Kiều đầy thương xót là bởi Nguyễn Du có một cơ địa tinh thần dễ thương xót. Tác phẩm, theo cách đó, trở thành tấm gương phản chiếu tâm tính của người viết.
Tầng thứ hai là bệnh lý học: Từ “đa sầu đa cảm”, Trương Tửu đặt sự nhạy cảm ấy gần với trạng thái bất ổn của thần kinh. Theo ông, Nguyễn Du có một căn tạng cảm xúc quá độ, dễ bị kích thích, dễ lo sợ, dễ rơi vào trầm uất. Trí tưởng tượng của nhà thơ mạnh đến mức các hình ảnh ma mị, oan hồn, âm ty, mộng triệu trong thơ văn trở nên như có thật. Đây là chỗ ông bắt đầu chuyển từ phân tích tâm lý sang gần như chẩn đoán bệnh lý. Với tầng bệnh lý học này, nhiều chi tiết trong Truyện Kiều cùng “Văn tế thập loại chúng sinh” được Trương Tửu đọc như một bệnh án thần kinh: cảnh mộng Đạm Tiên, những ám ảnh về số phận bạc mệnh, những linh cảm đứt ruột, những hình ảnh nấm mồ, bóng chiều, tiếng khóc, oan hồn…
Tầng thứ ba là xã hội học văn học: Trương Tửu không muốn để nỗi buồn ấy chỉ nằm trong một cá nhân. Ông đặt Nguyễn Du vào bối cảnh cuối Lê, Tây Sơn và đầu Nguyễn, một giai đoạn nồi da xáo thịt bậc nhất cyar lịch sử. Các thế lực cũ lần lượt sụp đổ. Một trật tự mới hình thành. Nhiều giá trị nhân sinh quan và thế giới quan bị đảo lộn. Chính Nguyễn Du cũng đi qua thời đại ấy với một thân phận nhiều chìm nổi, để rồi cuối cùng làm quan cho triều Nguyễn trong 18 năm cuối đời. Với Trương Tửu, cái buồn trong Kiều vì thế vừa là cái buồn cá nhân, vừa là cái buồn của một lớp người cũ đi qua biến thiên lịch sử. Nguyễn Du không còn chỉ là một cá nhân đa cảm. Ông còn thuộc về một dòng họ Nguyễn Tiên Điền với người anh trai Nguyễn Khản cũng vì các nhiễu nhương triền chính mà qua đời trong u uất. Ông còn thuộc về một tầng lớp văn nhân với không ít người cũng có thân phận long đong như ông mà không ai khác chính là Hồ Xuân Hương. Ông kẹt trong một thế giới tinh thần toàn quốc bị thời cuộc làm sang chấn toàn diện. Thế nên, nỗi đau của tác phẩm, theo Trương Tửu, nên được nối với nỗi đau của thời đại:
“Cha ông năm tháng đè lưng nặng
Những bạn đương thời của Nguyễn Du
Nung nấu tâm can, vò võ trán
Đau đời có cứu được đời đâu.”
(trích Các vị La Hán chùa Tây Phương, Huy Cận)
Tầng thứ tư là lối phê bình văn hóa – lịch sử: Nói nôm na, lối đọc này tin rằng muốn hiểu tác phẩm thì phải hiểu những điều kiện đã sinh ra nó. Một nhà văn không tự nhiên mà có. Một tác phẩm không tự nhiên mà thành. Đằng sau nó là gia đình, quê hương, giáo dục, dòng họ, giai cấp, thời đại, hoàn cảnh lịch sử và khí chất cá nhân.
Vì vậy, Trương Tửu muốn chứng minh rằng Truyện Kiều không rơi từ trời xuống. Nó nảy ra từ một con người cụ thể, trong một xã hội cụ thể, ở một thời điểm lịch sử cụ thể. Nó có nguồn gốc trong cá tính Nguyễn Du, trong bối cảnh cuối Lê – Tây Sơn – đầu Nguyễn, trong tâm thế của tầng lớp trí thức cũ, và trong cách một thời đại đổ bóng lên một tâm hồn thi sĩ. Đó là bộ khung phân tích mà ông dựng lên trước khi đi đến nhận định gây chấn động.
***
Có điều, từ tham vọng đến cực đoan đôi khi chỉ cách nhau một nhịp bút. Và Trương Tửu có lẽ đã đi quá xa.
Trong mắt nhiều người đương thời, ông không còn chỉ giải thích Truyện Kiều. Có người khó tính cho rằng ông xúc phạm tiền nhân. Người bình tĩnh hơn vẫn có thể hiểu rằng ông đang đem Nguyễn Du lên bàn mổ. Chỉ có điều, phương pháp phẫu thuật ấy đang “có vấn đề”. Bởi Nguyễn Du đâu chỉ có một nỗi buồn, càng không thể bị gói trong mấy chữ “bệnh thần kinh”. Nguyễn Du có học vấn, có trải nghiệm lịch sử, có vốn sống, có thiên tài ngôn ngữ. Nếu chỉ quy Truyện Kiều về một trạng thái tâm lý, thì khác nào đem cả một dòng sông nhốt vào chiếc lọ.
Thi đàn trong thế kỷ đó, tất nhiên đã không thể ngồi yên.
Ngô Tiến Vinh





