Có bao giờ bạn tự hỏi vì sao con người luôn khao khát hạnh phúc, kiếm tìm sự bình yên, nhưng lại sẵn sàng đắm chìm trước những trang sách đẫm nước mắt? Chúng ta khóc cùng nàng Kiều nơi đoạn trường thanh sắc, chết lặng trước nỗi cô độc của Gregor Samsa biến thành con bọ, hay chìm nghỉm vào cõi u hoài tịch mịch trong những vần thơ của Huy Cận. Vì sao những bi kịch, những nỗi buồn ấy lại có thứ trọng lực mãnh liệt đến vậy? Tại sao người ta không tìm đến sự hoan ca tột cùng, mà phải chìm vào những khoảng không u ám, nơi ánh sáng chỉ lấp ló qua kẽ nứt của sự tan vỡ?

Để trả lời được những câu hỏi đó, chúng ta sẽ bắt đầu bằng catharsis – sự thanh tẩy qua bi kịch mà Aristotle từng nhắc đến. Vượt lên trên một khái niệm mỹ học cổ đại, nỗi buồn trong văn chương là tấm gương phản chiếu những góc khuất thâm sâu nhất của tâm thức con người. Khi một nhân vật trên trang giấy khóc, nỗi đau của họ trở thành chiếc chìa khóa mở cánh cửa giam hãm cảm xúc của chính người đọc, chạm đến tầng sâu của lòng trắc ẩn. Nỗi buồn trên trang sách góp phần cứu rỗi chúng ta khỏi sự tê liệt cảm xúc trong đời sống thực tại. Giữa một thế giới mà con người đôi khi phải đeo những chiếc mặt nạ kiên cường để sinh tồn, những trang văn đượm buồn chính là nơi trú ẩn, nơi ta được phép yếu đuối và thừa nhận rằng mình đang tổn thương.

Nỗi buồn vốn là một hằng số vĩnh cửu trong hành trình tự nhận thức của nhân loại qua mọi thời đại, nên nó cộng hưởng đặc biệt mãnh liệt trong thế giới hiện đại. Con người ngày nay đang sống trong guồng quay chóng mặt của công nghệ, nơi các thuật toán định hình hạnh phúc bằng những con số tương tác và những bức ảnh mỉm cười hoàn hảo. Chủ nghĩa lạc quan độc hại (toxic positivity) bao vây chúng ta, buộc con người phải luôn mạnh mẽ, năng suất, rạng rỡ và thành công. Trong một môi trường xã hội như thế, văn chương u hoài bỗng biến thành tu viện của tâm hồn. Như các tác phẩm của Haruki Murakami, nỗi buồn là sự trống trải của những kẻ lữ hành lạc lõng giữa Tokyo hoa lệ… Khi một người đang bơ vơ giữa thành phố đọc những dòng chữ ấy, họ chợt nhận ra mình không đơn độc. Nỗi u hoài trên trang giấy hóa thành một cái ôm vô hình, thì thầm rằng sự lạc lõng này là một phần bản chất con người, rằng thế giới rộng lớn này vẫn có một tâm hồn xa lạ nào đó đang thấu hiểu từng nhịp đập hụt hẫng của trái tim.

Dịch chuyển sang văn học Việt Nam, nỗi buồn từng được đẩy lên thành một thứ tôn giáo của cái tôi cá nhân. Tiêu biểu như Huy Cận thấy cảnh ngậm ngùi của kiếp người nhỏ bé trước vũ trụ bao la:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

Ông đứng trước không gian mênh mông của sông dài, trời rộng, để rồi nhận ra sự mỏng manh, cô độc của kiếp người phù du. Độc giả mê đắm những trang thơ ấy vì tâm hồn họ tìm thấy một sự đồng điệu lớn lao, nơi nỗi buồn vũ trụ dịch chuyển sang cô đơn cá nhân rồi biến thành nghệ thuật. Hay nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh khắc họa qua những mảnh vỡ tâm hồn của người lính sau khi súng đã ngừng nổ. Kiên – nhân vật chính, mang theo một tâm hồn rách nát, chìm đắm trong những ký ức ám ảnh về chiến trận và mối tình đầu dở dang. Đọc tác phẩm giống như đi qua một vùng tàn tro của cảm xúc, để rồi chính qua lớp tro tàn ấy, giá trị nhân bản và khát vọng yêu thương lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Vươn ra thế giới, Nỗi đau của chàng Werther của Johann Wolfgang von Goethe từng tạo ra chấn động toàn châu Âu thế kỷ 18. Werther chết vì một tình yêu tuyệt vọng, vì sự bất dung thứ của một xã hội trưởng giả đầy định kiến. Nỗi u hoài trong tác phẩm là tiếng kêu cứu của một tâm hồn nhạy cảm trước những lề thói khô cứng của thời đại.

Những trang văn u hoài dẫu mang lại giá trị chữa lành kỳ diệu, nhưng ranh giới giữa sự thanh tẩy nghệ thuật (catharsis) và sự chìm đắm tiêu cực lại vô cùng mong manh.

Ở mặt tích cực, văn chương u hoài nuôi dưỡng năng lực thấu cảm sâu sắc. Khi bước vào thế giới nội tâm đau khổ của nhân vật, ranh giới giữa “ta” và “người” bị xóa nhòa, dạy chúng ta cách xót xa cho những mảnh đời bất hạnh và chấp nhận sự bất toàn của nhân tính. Như người Nhật có khái niệm mono no aware – cảm thức da diết trước sự vô thường của vạn vật khi một bông hoa tàn phai hay một mùa xuân qua đi. Hiểu về nỗi buồn giúp con người trưởng thành hơn, biết trân trọng hiện tại vì biết rằng mọi thứ rồi sẽ phôi pha.

Nhưng mặt trái của nó cũng đáng báo động không kém. Không phải mọi tác phẩm đượm buồn đều mang lại sự chữa lành; có những trang viết sa đà vào sự bi lụy, cố tình moi nước mắt bằng những bi kịch vụn vặt thiếu chiều sâu. Khi tiếp nhận những sản phẩm ấy, ranh giới giữa sự thanh tẩy và sự tự thương hại (self-pity) bị phá vỡ. Có những độc giả tìm đến nỗi buồn trong sách không phải để đối diện, mà để nuôi dưỡng sự bi lụy, mượn nỗi buồn của nhân vật làm cái cớ cho sự bất lực của chính mình, biến bi kịch thành một thứ thời trang tinh thần ủy mị nhằm trốn tránh thực tại.

Nguy hiểm hơn cả là hiện tượng lãng mạn hóa sự trầm cảm và cái chết. Hiệu ứng Werther từng là một minh chứng lịch sử đau xót khi hàng loạt thanh niên châu Âu tự sát theo cách của nhân vật trong tiểu thuyết Goethe. Khi văn chương u hoài vượt qua biên giới nghệ thuật để trở thành một thứ ám ảnh độc hại, nó bóp nghẹt sức sống, tước đoạt khả năng hành động và niềm tin vào tương lai. Nỗi buồn lúc này không còn là thanh âm của sự đồng cảm, mà biến thành nhà tù giam hãm ý chí.

Có thể ví văn chương u hoài giống như nghệ thuật Kintsugi của người Nhật – dùng vàng để gắn kết những mảnh vỡ của chiếc bình gốm, biến vết nứt thành điểm nhấn đẹp đẽ nhất của tác phẩm. Văn chương u hoài lấy những giọt nước mắt, những niềm đau và sự mất mát để tô điểm cho chiều sâu của tâm hồn. Tìm đến những trang văn buồn, suy cho cùng, cũng là một trong những cách giúp chúng ta ôm ấp phần mong manh nhất nhất bên trong chính mình. Để rồi qua màn đêm của nỗi u hoài trên trang sách, ta lại học cách bước ra ánh sáng với một trái tim đã được gọt giũa trở nên thấu cảm và vững chãi hơn trước mọi giông bão của cuộc đời. 

Thanh Ngân