Xưa nay có nhiều cách chống tham quan. Người viết sớ dâng tận triều đình, kẻ lại dùng mẹo thâm Nho như Trạng Quỳnh để bắt đối phương “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Nhưng Tiến sĩ Nguyễn Quý Tân (ông Nghè Tân) lại chọn một cách rất “đời”!

Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Quý Tân (ông Nghè Tân) nổi danh là một bậc kỳ tài với tính cách ngạo đời, ngay thẳng, liêm khiết. Nghè Tân thường ăn mặc làm dân, dùng cái chữ của thánh hiền để thử các quan lại. Câu chuyện ông mượn xác một con trâu chết để trị quan phủ tham nhũng là một minh chứng kinh điển cho việc: Đừng bao giờ mang luật lệ ra dọa một người… viết ra luật!

Nghe qua tưởng chuyện vặt vãnh nơi làng quê, nhưng càng ngẫm, càng thấy cái “cay” của một bậc kỳ tài ngạo đời.

***

Thời ấy, luật pháp bảo vệ trâu bò nghiêm lắm! Hễ chết thì không phải thích chôn là chôn, mà phải làm đơn trình quan phủ chờ khám nghiệm. Nghe thì có vẻ minh bạch, nhưng qua tay quan lại, cái “hợp lý” ấy bắt đầu có giá. Đơn khai trâu chết: mất tiền. Trình diện: mất tiền. Qua nha lại: vẫn… mất tiền. Một con trâu đã chết, nhưng người nông dân còn phải “chết thêm” vài quan tiền lệ phí.

Một hôm ông Nghè Tân cùng bọn lính tùy tùng giả làm phường lái buôn đi qua phố phủ Bình Giang (nay thuộc Hải Phòng). Ông thấy một người đàn bà đang nhớn nhác, vừa khóc lóc vừa kể lể đáng thương. Ông hỏi lý do tại sao thì người đàn bà mếu máo trả lời:

– Tôi là đàn bà góa chồng. Nhà có con trâu, chẳng may nó chết. Hôm qua, tôi đã nhờ thầy lý trưởng làm đơn và đóng triện thị thực để hôm nay lên trình quan phủ xin chôn cất, thầy lý đòi 2 quan tiền. Sáng nay, tôi đi từ nhà đến phủ, qua mấy cánh đồng, vừa tới nơi, rờ tới tờ đơn cuốn để trong bọc thì không thấy, chỉ còn có 6 quan tiền để lễ quan phủ và nha lại. Nay tôi trở về làng thì xa quá mất cả ngày, mà nhờ người viết đơn hộ thì không có tiền để trả công người ta.

Ông Nghè Tân nghe vậy lấy làm bất bình lắm! Chôn một con trâu chết mà phải tốn kém hàng mớ tiền bạc và mất thì giờ cho người dân. Ông hỏi quán nước ở cổng phủ thì biết quan phủ mới từ trong kinh ra nhậm chức, ra lệnh bắt dân vào hầu bất cứ việc gì đều phải nộp 2 quan tiền trình diện. Đơn khai trâu chết phải nộp 5 quan, bò chết nộp 3 quan, ngoài ra bọn nha lại, lính lệ ăn thêm một vài quan nữa!

Bất bình trước thói vô đạo bất lương tù những người tự nhận mình là bậc phụ mẫu, cụ Nghè mở tráp lấy giấy bút, vung tay viết giúp người đàn bà góa một lá đơn “độc nhất vô nhị”:

“Tôi là phận gái nữ nhi

Có con trâu chết phải đi trình người

Vội vàng váy trụt đơn rơi

Tôi mượn một người làm cái đơn ni

Quan tri ới hỡi quan tri

Xin ngài chấp nhận đơn ni làm bằng

Nếu quan còn hỏi mần răng

Thời quan cắn cỏ lạy thằng làm đơn”.

Rồi ông đưa cho người đàn bà mang đơn vào nộp.

***

Kịch hay giờ mới bắt đầu!

Bà vào trong công đường, mượn cái mâm gỗ để lá đơn kèm với 5 quan tiền, đệ đơn lên bàn rồi quỳ lạy. Phủ quan ngồi nơi xa, sai lính lệ ra nhận đơn và tiền mang vào. Quan phủ đọc lá đơn, thấy nét chữ đẹp như rồng bay phượng múa mà lời… “hỗn” thì giận tím mặt. Ông thét lên tra hỏi:

– Mụ kia! Tên nào làm đơn cho mi? Mi phải khai thực, không thì ta nọc cổ đánh đòn và nhốt giam mi lại!

Người đàn bà chẳng hiểu đầu đuôi ra sao, lập cập khai:

– Bẩm quan lớn. Con nhờ thầy lý làm dùm cái đơn tối hôm qua để sáng nay con mang lên trình quan lớn. Chẳng may đi đường rớt lá đơn lúc nào không hay, con đang tìm kiếm quanh quẩn thì có một ông lái ở quán nước cổng phủ thương tình làm hộ lá đơn này.

Quan phủ nghe nói vậy liền sai mấy tên lính lệ ra quán nước bắt tên lái buôn viết bậy vào. Bọn lính lệ ra đến quán nước chỉ thấy hốt hoảng: Một ông quan đeo bài ngà, cùng với mấy tên lính theo hầu. Ông Nghè Tân và mấy người lính đã mặc áo quan, áo lính vào rồi! Lính lệ lật đật chạy về trình quan phủ. Ông này biết là có sự chẳng lành, một phần cũng đoán là ông Nghè Tân đi thanh tra, nên một mặt hối thúc quét dọn công đường, một mặt cùng bọn lính lệ mở toang cổng phủ, ra hàng nước để đón rước.

Khi đến quán nước, viên tri phủ liếc mắt nhìn bài ngà thấy rõ ràng mấy chữ “Bắc Kỳ thanh tra đại thần, Tiến sĩ Nguyễn Quý Tân”, không còn ngờ vực gì nữa, ông vội phủ phục xuống lạy chào quan thanh tra và khúm núm sợ hãi mời vào trong phủ đường. Ông Nghè Tân vào công đường, bắt phủ quan trình các giấy tờ sổ sách, công văn, án từ để ông xem xét. Ông Nghè Tân im lặng tra xét sổ sách tới trưa thì quan phủ khẽ bảo lính lệ vào trong nhà bảo bà phủ làm cơm để đãi quan thanh tra. Một mâm cỗ thịnh soạn, đủ các món sơn hào hải vị và chai rượu quý được bưng ra công đường, ông phủ gãi đầu gãi tai mời quan thanh tra nghỉ tay để dùng bữa. Ông thanh tra nhìn mâm cơm thịnh soạn liền trỏ tay vào quan phủ mà nói rằng:

– Đây là máu mủ của dân lành, trâu chết lấy 5 quan, bò chết lấy 3 quan, mỗi lá đơn 2 quan, nỡ lòng nào mà ta ngồi ăn sao được. Đã là cha mẹ dân thì phải thương dân như thương con, phải chăm nom cho dân, chớ sao lại bòn rút của dân để ăn uống xa xỉ như thế này? Thôi thầy phủ cho cất những thức ăn thịnh soạn này đi, ta không ăn uống gì đâu!

Phủ quan sợ hãi tái mặt, vội quỳ xuống xin quan thanh tra khoan hồng, hứa từ nay sẽ bỏ những luật lệ đó. Ông Nghè Tân liền bắt phủ quan thông sức ngay về tất cả các làng báo cho lý dịch và toàn dân biết từ nay trở đi trâu bò chết không phải trình quan phủ xin phép chôn cất mà chỉ cần trình lý dịch trong làng là đủ. Khi có việc lên phủ thì không phải nộp tiền trình 2 quan nữa.

***

Câu chuyện này buồn cười không? Có chứ! Một con trâu chết mà lôi ra được cả một hệ thống ăn chặn. Một lá đơn “váy trụt” mà lật mặt được một ông quan tham. Nhưng cái cười ấy không hề nhẹ. Nó nhắc nhở chúng ta rằng: Tham nhũng không phải lúc nào cũng nằm ở những đại án bạc tỷ. Nhiều khi, nó len lỏi trong những tờ đơn, những cái gật đầu của nha lại, những thứ nhỏ nhặt đến mức người dân tưởng đó là “chuyện thường”. Nhưng hãy nhìn xem, tích tiểu thành đại, kho tham của quan thì cứ thế nhân lên gấp bội, còn lòng dân thì cứ theo đó mà mòn vẹt, héo hon dần. Cái mất đi lớn nhất không phải là vài quan tiền lệ phí, mà là niềm tin vào đạo lý và công lý ở đời.

Cái tài của ông Nghè Tân không chỉ là dùng quyền để trị ác, mà là dùng cái “nhục” để trị cái “tham”. Ông không chỉ đuổi quan, ông bắt họ phải biết xấu hổ. Mà trong đạo làm người, biết xấu hổ đôi khi còn đáng sợ hơn cả bị trừng phạt!

Ngô Tiến Vinh