Trong thơ ca Việt Nam hiện đại, hiếm có tiếng gọi nào giản dị mà lay động lòng người như tiếng gọi “bầm”, “bủ” trong thơ Tố Hữu. Chỉ một tiếng “bầm ơi” thôi mà đã chứa cả một miền quê trung du lặng lẽ, chứa cả nỗi nhớ của người con ra trận, chứa cả bóng dáng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam trong những năm kháng chiến.
Điều đặc biệt là “bầm” trong thơ Tố Hữu không chỉ là một hình tượng mơ hồ. Đằng sau hai bài thơ “Bà Bủ” và “Bầm ơi” là một câu chuyện rất thật về một người mẹ vùng trung du Phú Thọ, người đã vô tình bước vào lịch sử văn học bằng sự hiền hậu bao dung dành cho hàng chục văn nghệ sĩ trong những ngày trường kỳ kháng chiến chống Pháp, và bằng nỗi nhớ người con chiến binh thầm lặng của mình.
***
Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, các xã Gia Điền, Ấm Hạ, Chu Hưng, Đại Phạm… thuộc vùng trung du Phú Thọ từng là nơi đặt trụ sở của nhiều cơ quan nhiều cơ quan Trung ương, Liên khu 10 và của tỉnh Phú Thọ. Khoảng các năm 1947–1948, tại xóm Gốc Gạo, xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa (nay thuộc xã Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ), nhiều văn nghệ sĩ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân… đã đặt trụ sở của Hội Văn nghệ Việt Nam.
Họ ở nhờ trong ngôi nhà gỗ năm gian lợp lá cọ của một người phụ nữ trong làng, bà Nguyễn Thị Gái. Ở vùng trung du khi ấy, người ta thường gọi mẹ bằng những tiếng rất mộc mạc: “bầm” hay “bủ”. Vì thế, trong ký ức của các văn nghệ sĩ, bà Gái luôn được gọi thân mật là Bủ Gái. Ngôi nhà của bà nhanh chóng trở thành nơi nương náu của cả một nhóm văn nghệ sĩ. Nhưng người chủ nhà hiền hậu ấy lại dọn xuống bếp ở, nhường gian nhà trên cho khách. Ban ngày bà lên nương trồng ngô, xuống ruộng cấy lúa. Tối đến, bà lại lặng lẽ lo cơm nước cho những người làm văn nghệ kháng chiến.
Điều khiến mọi người chú ý không chỉ có sự lam lũ ấy. Mà là những đêm khuya, trong căn bếp tối, các văn nghệ sĩ nghe thấy tiếng khóc rất khẽ. Ban đầu họ không hiểu chuyện gì. Hỏi mãi, Bủ Gái mới thổ lộ: bà có một người con trai đã đi bộ đội từ lâu, không có thư từ gì gửi về. Nỗi nhớ và nỗi lo khiến bà nhiều đêm không ngủ được, chỉ biết ngồi khóc thầm trong bóng tối.
Câu chuyện ấy khiến những người cầm bút trong đoàn không khỏi chạnh lòng. Vậy là, với tấm lòng đã rung động trước tình mẫu tử bao la, Tố Hữu đã viết bài thơ đầu tiên lấy hình tượng của Bủ Gái “Bà Bủ”. Những câu thơ mở ra như tiếng ru buồn buồn giữa đêm khuya, dịu dàng, nhưng lại khiến người đọc không khỏi trằn trọc:
“Bà Bủ nằm ổ chuối khô
Bà Bủ không ngủ bà lo bời bời…
Đêm nay tháng chạp mồng mười
Vài mươi bữa nữa Tết rồi hết năm.
Bà Bủ không ngủ bà nằm
Bao giờ thằng út về thăm một kỳ?…”
Nhưng có lẽ một bài thơ “Bà Bủ” vẫn chưa đủ để nói hết nỗi nhớ con sâu nặng của người mẹ trung du ấy.
***
Một buổi chiều, khi nhìn cảnh trời trung du mưa tầm tã tháng bảy, nghe tiếng gió heo heo thổi qua mái cọ, Tố Hữu lại nghĩ đến nỗi lòng của Bủ Gái. Ông hình dung ra một người con đang ở nơi chiến trường xa xôi, tưởng tượng như chính người con trai của bà đang viết thư về cho mẹ.
Và ông viết.
Những câu thơ đầu tiên vang lên như một lời nhắn gửi từ mặt trận:
“Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…”
Bài thơ “Bầm ơi” ra đời trong hoàn cảnh như thế.
Nhưng câu chuyện sau đó còn cảm động hơn thế nữa. Sau khi bài thơ hoàn thành, các văn nghệ sĩ đã nghĩ ra một “kế nhỏ”: nói dối với Bủ Gái rằng đây chính là thư của con trai bà gửi về từ mặt trận. Rồi họ đọc bài thơ cho bà nghe. Bủ Gái lặng im nghe từng câu. Người mẹ già tin rằng đó thực sự là lời của con mình. Bà vui hẳn, ánh mắt sáng lên:
– Đấy, thằng con trai tôi nó quyến luyến với tôi thế đấy các anh ạ!
Và từ đó không còn khóc thầm trong đêm nữa.
Sau đó, thi thoảng Bủ Gái lại bảo Tố Hữu đọc bài thơ ngỡ của con mình cho Bủ nghe. Tố Hữu đọc chậm diễn đạt hay hơn nên Bủ quý Tố Hữu lắm.
***
Vượt xa mọi mong đợi ban đầu, bài thơ với những lời lẽ chân phương và nội dung giản dị ấy đã nhanh chóng bay đi muôn phương. “Bầm ơi” theo chân người lính ra chiến trường, vào trận địa. Các chiến sĩ nghe, chép lại, chuyền tay nhau đọc, học thuộc lòng rồi ngâm nga khi có dịp gặp gỡ đồng bào ở các làng bản. Từ câu chuyện riêng của một người mẹ, bài thơ đã trở thành tiếng lòng chung của cả một thế hệ ra trận như thế đấy!
Sau ngày hòa bình lập lại, người con trai của Bủ Gái trở về với quân hàm Đại tá. Khi biết câu chuyện về bài thơ, ông vừa xúc động vừa tự hào. Ông đã tìm đến thăm nhà thơ Tố Hữu ở Hà Nội để cảm ơn tác giả vì nhờ có bài thơ ấy mà mẹ mình bớt đi phần nào nỗi nhớ con trong những năm tháng chiến tranh.
Đáp lại, nhà thơ hỏi thăm sức khỏe Bủ Gái. Nhân trong nhà còn mảnh lụa do Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng nhân dịp ông cưới phu nhân Vũ Thị Thanh, Tố Hữu liền gửi về tặng Bủ. Bủ Gái nâng niu bộ quần áo lụa ấy như một kỷ vật quý. Bà giữ gìn suốt nhiều năm. Cho đến khi sắp sang thế giới bên kia, các con mới tắm rửa, mặc bộ quần áo lụa ấy cho Bủ để bà thanh thản ra đi.
***
Thời gian trôi qua. Bủ Gái nay đã vào cõi vĩnh hằng, căn nhà xưa cũng không còn nữa. Nhưng trên nền đất cũ vẫn còn tấm bia lưu niệm ghi dấu những tháng ngày của văn phòng văn nghệ kháng chiến từng sống và sáng tác tại đây. Còn trong lòng cả dân tộc, vẫn còn đó những câu chuyện về bài thơ “Bầm ơi” được người đi trước kể lại cho lớp trẻ. Âm hưởng ấm áp và sâu nặng ân tình của những vần thơ năm nào nhờ đó mà vẫn sống mãi.
Tất cả đã ra đời từ một vùng quê kháng chiến bình dị, nhưng lại vang vọng mãi như biểu tượng của tình quân dân gắn bó, của tình mẫu tử thiêng liêng, thứ sức mạnh vô hình đã giúp dân tộc Việt Nam đi qua những năm tháng chiến tranh gian khó nhất của thế kỷ XX.
Ngô Tiến Vinh





