Trong những năm tháng chiến tranh, đất nước Việt Nam không chỉ có những người con ra trận, mà còn có những người mẹ lặng lẽ đứng phía sau. Họ không cầm súng, không bước vào chiến hào, nhưng lại âm thầm góp sức cho cách mạng bằng tất cả những gì mình có: mái nhà, bát cơm, và đôi khi là cả sự bình yên của cuộc đời mình.

Trong thơ của Tố Hữu, những người mẹ ấy nhiều lần hiện lên với tất cả sự giản dị và thiêng liêng. Nếu miền trung du Phú Thọ có “Bầm ơi”,“Bà Bủ”, thì ở vùng quê xứ Thanh lại có “Mẹ Tơm”. Cũng như lần trước,  đó không phải là một nhân vật tưởng tượng của thi ca, mà là một con người thật, với một cuộc đời thật, đã sống và hy sinh thầm lặng cho đất nước.

***

Mẹ Tơm tên thật là Nguyễn Thị Quyển, sinh năm 1880, quê ở làng Hanh Cù (nay là làng Đông Thành, xã Vạn Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Mẹ lấy chồng cùng quê là cụ Vũ Văn Sởn, sinh được bốn người con. Hai người con trai của mẹ, Vũ Văn Sồ và Vũ Đức Hậu, đều tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn rất trẻ.

Sử sách ghi lại rằng sau khi Chiến khu du kích Ngọc Trạo (huyện Thạch Thành, Thanh Hóa) thất bại, năm 1942 Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa chuyển về Nga Sơn để củng cố tổ chức và in báo “Đuổi giặc nước”. Khi bọn mật thám và quan lại phát hiện ra sự tồn tại của tờ báo Việt Minh này, chúng lập tức truy lùng ráo riết. Tình thế trở nên nguy cấp, tổ chức buộc phải chuyển địa điểm hoạt động sang huyện Hậu Lộc.

Chính trong hoàn cảnh ấy, ngôi nhà ba gian lợp mái rơm trên cồn cát hoang vắng của gia đình Mẹ Tơm đã được chọn làm căn cứ. Ngôi nhà nhỏ ấy trở thành nơi đặt cơ quan của Tỉnh ủy lâm thời Thanh Hóa. Nhà nằm ven con đường liên thôn, lính địch thường xuyên qua lại. Việc nuôi giấu cán bộ vì thế vô cùng nguy hiểm. Chỉ cần một sơ suất nhỏ, cả gia đình có thể phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

Thế nhưng Mẹ Tơm vẫn sẵn sàng mở cửa.

***

Lúc bấy giờ, Bí thư Tỉnh ủy lâm thời là ông Lê Tất Đắc, sau đó là Tố Hữu, cùng các đồng chí Trịnh Ngọc Điệt, Hoàng Tiến Trình, Hoàng Xung Phong, Đặng Hỷ… đều từng ở và hoạt động tại nhà Mẹ Tơm. Ngay trong căn nhà nhỏ ấy, các cán bộ cách mạng tiếp tục củng cố tổ chức, xây dựng cơ sở, móc nối liên lạc, đồng thời in báo “Đuổi giặc nước” bằng phương pháp li-tô (khắc chữ lên đá rồi in ra giấy), in truyền đơn và biểu ngữ tuyên truyền.

Bề ngoài, cuộc sống trong gia đình Mẹ Tơm dường như không có gì thay đổi. Nhưng bên trong, những hoạt động cách mạng vẫn âm thầm diễn ra. Trong làng có nhà Chánh Tổng vốn nổi tiếng hay soi mói, nên ông bà Tơm được phân công canh gác cả ngày lẫn đêm, trước và sau nhà. Mọi sinh hoạt của “đại gia đình” ấy đều dựa vào sự tảo tần của Mẹ. Ứng với câu “Nồi khoai sớm tối lót thay cơm”, bữa ăn hằng ngày thường là khoai lang, ít cơm với cà muối và tép kho mặn.

“Chợ xa, Mẹ gánh mớ rau xanh

Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh

Bãi cát vàng thau in bóng Mẹ

Chiều về… Hòn Nẹ… Biển reo quanh…”

rên mảnh đất cằn ven cồn cát, bà trồng thêm vài luống rau. Chiều đến, bà hái rau đem ra chợ bán cùng với bó củi phi lao hay mớ ốc vừa mò được.

Ít ai biết rằng dưới đáy rổ rau ấy, bà thường giấu những tờ báo và truyền đơn cách mạng. Khi có điều kiện thuận lợi, bà lặng lẽ rải chúng khắp nơi. Không ai có thể ngờ rằng người mẹ nghèo lam lũ, đôn hậu ấy lại dũng cảm mang theo truyền đơn trong những gánh rau, bước chân mòn mỏi qua các phiên chợ Hôm, chợ Mành, chợ Vích, chợ Nghè, chợ Choàng… thậm chí sang tận chợ Bạch ở Nga Sơn để tuyên truyền cách mạng. Nhưng trong ký ức của nhiều người, Mẹ Tơm vẫn chỉ là một người mẹ quê hiền lành, với nụ cười đôn hậu và dáng vẻ điềm tĩnh.

***

Không chỉ riêng bà, cả gia đình Mẹ Tơm đều trở thành những chiến sĩ thầm lặng của cách mạng. Theo lời kể của ông Vũ Xuân Thoa, cháu đời thứ tư của Mẹ Tơm, khi đã giác ngộ cách mạng, hai người con trai của bà,  Vũ Văn Sồ và Vũ Đức Hậu, đã từ bỏ nghề chăn trâu thuê để đi cắt tóc dạo, lấy tiền nuôi cán bộ. Đồng thời họ còn làm liên lạc, móc nối với các tổ chức, đi phát báo và rải truyền đơn. Cụ Vũ Văn Sởn, chồng Mẹ Tơm, cũng bỏ nghề cày thuê để ở nhà đan lát. Hằng ngày cụ ngồi trước cửa đan rổ rá, vừa làm vừa canh chừng. Mỗi khi có người lạ tới gần, cụ lại tỏ ra khó chịu, cáu gắt vì “đang bận làm việc”. Lâu dần, cụ trở thành một người khó tính trong mắt dân làng. Nhưng chính vỏ bọc ấy lại giúp các cán bộ cách mạng yên tâm hoạt động bên trong căn nhà nhỏ. Hai con dâu của Mẹ Tơm là Đỗ Thị Bạn (vợ anh Sồ) và Mai Thị Khoán (vợ anh Hậu) cũng được giao nhiệm vụ làm vườn quanh nhà để quan sát phía sau, vừa chăm sóc các cán bộ, vừa trông nom đứa cháu nội nhỏ của bà là hĩm Nhiều.

Số tiền ít ỏi kiếm được từ việc cắt tóc, bán rau, bán củi, bán rổ rá được Mẹ Tơm gom góp cẩn thận vào hai chiếc hũ sành: một hũ đựng gạo, một hũ đựng tiền. Ngày qua ngày, bà chắt chiu từng chút một. Số gạo và tiền ấy được dành để nuôi cán bộ những lúc mưa bão, ốm đau. Bà chăm sóc họ như chính những đứa con ruột của mình. Bà thường nói:

“Mẹ thương các con lắm. Vì việc nước, việc người nghèo mà các con phải bỏ nhà cửa, xa cha mẹ!”

Mỗi lần đi chợ về, bà lại mua một chiếc bánh đa, bẻ ra chia cho các anh, mỗi người một miếng.

“Nhưng một đêm mưa, ướt bãi cồn

Lính về, lính trói cả hai con

Máu con đỏ cát đường thôn lạnh

Bóng mẹ ngồi trông, vọng nước non!”

Đầu năm 1944, cơ sở cách mạng tại nhà Mẹ Tơm bị bại lộ do có kẻ phản bội. Tỉnh ủy lâm thời buộc phải rút sang Hoằng Hóa và Nga Sơn. Địch kéo quân về lùng sục, bắt bớ và tra tấn cả gia đình Mẹ Tơm. Nhưng không ai khai nửa lời. Chồng và hai con trai bà bị bắt giam suốt hai năm tại nhà tù thị xã Thanh Hóa. Đến tháng 4 năm 1945 mới được thả. Nhưng vừa trở về, họ lại tiếp tục tham gia chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

***

Một mái nhà nhỏ. Một gia đình nghèo. Nhưng chính nơi ấy đã nuôi lớn một ngọn lửa cho cách mạng Việt Nam. Để nhiều năm sau, khi nhớ lại những ngày tháng ấy, Tố Hữu đã viết những dòng thơ xúc động:

“Con đã về đây, ơi mẹ Tơm

Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm

Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy

Không sợ tù gông, chấp súng gươm!”

Ngô Tiến Vinh