​Năm 1847, kinh thành Huế chìm trong một nỗi buồn u uẩn. Sau cái chết của ông Lưu Nguyên Ôn, người bạn đời tri kỷ, người đồng môn và cũng là chỗ dựa tinh thần duy nhất giữa chốn quan trường. Bà huyện Thanh Quan cảm thấy sợi dây liên kết giữa mình và vùng đất Kinh kỳ đã đứt đoạn. Dù vua Tự Đức lúc bấy giờ mới lên ngôi, vốn trọng tài học và sự đức độ của nữ Giáo tập, đã nhiều lần ngỏ ý lưu giữ bà lại trong cung để tiếp tục răn dạy các phi tần, nhưng tâm ý bà đã quyết. ​Bà dâng sớ xin “cáo lão” để đưa các con trở về quê cũ Nghi Tàm. Thực chất, ở tuổi ngoại tứ tuần, bà chưa già đến mức phải nghỉ ngơi, nhưng tâm hồn bà đã mỏi mệt sau bao năm dài nhìn những “vật đổi sao dời”.

Chuyến hành trình từ Huế ra Thăng Long kéo dài nhiều ngày đêm trên con đường thiên lý. Khi những rặng liễu rủ bóng bên mặt nước Hồ Tây hiện ra trong tầm mắt, bà mới khẽ thở phào. Thăng Long của những năm 1847 đã không còn là đất đế đô, giờ đây chỉ còn là một tỉnh lỵ của triều Nguyễn, nhưng với bà, đây vẫn là nơi duy nhất có thể vỗ về nỗi cô đơn của một góa phụ tài hoa.

​Làng Nghi Tàm bấy giờ vẫn giữ cái vẻ thanh bình của một làng chài ven hồ, nơi tiếng gõ mái chèo nhịp nhàng hòa cùng tiếng chuông chùa Trấn Quốc. Tuy nhiên, đằng sau vẻ thanh bình ấy là những đợt sóng ngầm. Dân làng Nghi Tàm lúc này đang khốn khổ vì một hủ tục tiến cống đã kéo dài qua nhiều triều đại: Lệ tiến chim sâm cầm. ​

Theo điển lệ, mỗi năm cứ vào độ cuối thu đầu đông, khi loài chim sâm cầm từ phương Bắc bay về trú chân tại mặt hồ Tây, dân làng Nghi Tàm lại bắt đầu chuỗi ngày kinh hoàng. Sâm cầm là loài chim thịt thơm bổ, nên triều đình quy định mỗi giáp phải nộp đủ số lượng chim đạt tiêu chuẩn: lông mượt, ức đầy, cân nặng từ bảy lạng đến một cân. ​Ngặt nỗi, chim trời cá nước đâu có nghe theo lệnh quan. Có năm chim về ít, có năm thời tiết khắc nghiệt khiến chim gầy, dân làng phải lặn lội suốt đêm trên hồ, mắt quầng thâm vì thiếu ngủ mà vẫn không bắt đủ số. Quan lại phủ Hoài Đức lại nhân đó mà đục khoét, ai không nộp đủ thì bị đánh roi, phạt bạc nén, gà thiến. Hình ảnh đó đã chạm vào lòng trắc ẩn của bà Huyện. ​Đêm đêm, ngồi trong căn nhà lá nhìn ra mặt hồ mênh mông mờ sương, bà nghe thấy tiếng chim sâm cầm vỗ cánh kêu sương khắc khoải. Tiếng kêu ấy như tiếng lòng của dân làng, như nỗi oan ức của những người thấp cổ bé họng. Bà tự hỏi: “Văn chương để làm gì, chữ nghĩa thánh hiền để làm chi, nếu không thể cứu nổi một kiếp người đang oằn mình dưới những lệ tục?” ​Cuối cùng Bà Huyện Thanh Quan quyết định thực hiện một việc: Dùng ngòi bút để can gián quân vương. ​Bà thức trắng nhiều đêm để khởi thảo lá sớ xin miễn lệ tiến cống. ​

Vài tháng sau, một đoàn sứ giả từ kinh đô Huế mang theo chiếu chỉ của vua Tự Đức về đến tỉnh Hà Nội. Tin mừng lan đi nhanh hơn cả gió: Vua ban lệnh bãi bỏ lệ tiến cống chim sâm cầm cho dân làng Nghi Tàm. ​Ngày nhận chiếu chỉ, làng Nghi Tàm mở hội lớn chưa từng có. ​Ông Lý trưởng làng Nghi Tàm, đã cùng các bô lão họp bàn trong đình làng. Họ quyết định ghi tên bà huyện Thanh Quan vào Ngọc phả của làng. Đây là một vinh dự thường chỉ dành cho những bậc công thần có công khai hoang lập ấp hoặc các vị đỗ đạt cao. Bà là người phụ nữ hiếm hoi được vinh danh vì đã cứu cả một ngôi làng khỏi kiếp lầm than. ​

Sau sự kiện chim sâm cầm, sức khỏe của bà Huyện yếu dần. Những năm tháng vất vả nơi quan trường, nỗi đau mất chồng và sự lao tâm vì dân làng đã vắt kiệt sức lực của nữ sĩ. ​Vào một buổi chiều cuối năm 1848, khi cái lạnh sương muối của miền Bắc bắt đầu bao trùm lên mặt hồ, bà ngồi bên cửa sổ, nhìn đàn chim sâm cầm chao liệng tự do trên bầu trời. Không còn bẫy rập hay những tiếng kêu than, chúng tự do như chính tâm hồn bà bấy giờ. ​Bà qua đời, lặng lẽ như một nhành mai rụng sau mùa đông dài.

​Ngày nay, nếu ai có dịp ghé thăm làng Nghi Tàm, nghe kể về những giai thoại quanh Hồ Tây, hẳn sẽ thấy bóng dáng Bà huyện Thanh Quan vẫn phảng phất đâu đó. Không chỉ là một thi sĩ với bài thơ “Qua đèo Ngang” đầy u uất, bà còn là một biểu tượng của trí tuệ và lòng nhân ái của người phụ nữ Việt Nam thế kỷ XIX. ​Lệ sâm cầm đã mất, triều đại nhà Nguyễn cũng đã lùi vào quá khứ, nhưng câu chuyện về người phụ nữ thay chồng xử án, can gián quân vương để cứu dân vẫn mãi là một viên ngọc sáng trong trong lòng hậu thế.

“Những truyện ngắn này được xây dựng dựa trên những giai thoại văn học và câu chuyện truyền tụng trong dân gian về cuộc đời nữ sĩ Bà huyện Thanh Quan. Với mục đích khắc họa chân dung một tâm hồn tài hoa và nghĩa khí, người viết đã sử dụng yếu tố hư cấu, sắp xếp lại các tình tiết để tăng thêm tính sinh động và hấp dẫn. ​Các nội dung trong truyện mang tính chất sáng tác văn học, không được xem là tư liệu học thuật, sử liệu chính thống hay các khẳng định tuyệt đối về cuộc đời thật của nhân vật lịch sử. Trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một góc nhìn giàu cảm xúc về “Bà Huyện Thanh Quan” trong dòng chảy văn hóa Việt Nam.”

Thanh Ngân