Kinh thành Huế những năm vua Minh Mạng trị vì, hiện lên với vẻ thâm nghiêm của những bức tường thành gạch vồ đỏ quạch và sự tĩnh mịch đến nao lòng của dòng Hương giang. Sau biến cố tại Thái Bình, ông Lưu Nguyên Ôn được bổ làm Thư lại rồi thăng dần lên Viên ngoại lang bộ Hình. Nhờ danh tiếng về tài học và đức độ lan xa, bà Huyện Thanh Quan được vua Minh Mạng triệu vào cung phong chức Giáo tập. Nhiệm vụ của bà là dạy dỗ lễ nghi, giảng giải kinh thư cho các công chúa và phi tần trong tam cung lục viện.
Chuyện rằng: Vua Minh Mạng là người làm việc tận tụy, nhưng cũng là một nghệ sĩ có cái tôi rất lớn. Nhà vua đặc biệt tự hào về khả năng thư pháp của mình. Một buổi chiều tại điện Cần Chánh, nhân dịp chúc mừng một vị đại thần có công trạng, nhà vua cao hứng cầm bút lông đại tự, viết hai chữ “Phúc” và “Thọ” theo lối thư họa để ban tặng. Viết xong, vua ngắm nghía hồi lâu rồi cho gọi bà Huyện Thanh Quan đến. Nhà vua chỉ tay vào bức thư pháp còn thơm mùi mực tàu, đắc ý hỏi:
– Ngươi xem, nét chữ của Trẫm lần này thế nào? Có thần thái không?
Bà Huyện tiến lại gần, nhìn vào bức trướng. Nói thực thì, chữ “Phúc” được vua viết với những nét sổ ngang mập mạp, đầy đặn đến mức trông như một phú ông vừa ăn no; còn chữ “Thọ” lại được kéo dài ngoằng, mảnh khảnh như một sợi tơ vươn mãi không thôi. Trong giới thư pháp, đây là lối viết có phần hơi… “quá đà”, thiếu đi sự cân đối hài hòa. Nếu là kẻ khác, hẳn đã quỳ xuống tung hô “rồng bay phượng múa”. Nhưng bà Huyện, với bản tính hóm hỉnh và sự tinh tế bẩm sinh, khẽ cúi đầu, môi nở một nụ cười ẩn ý rồi tâu:
– Tâu bệ hạ, thật là: Phúc tối hậu, Thọ tối trường!
Vua Minh Mạng nghe xong, ban đầu hơi ngẩn ra, rồi sau đó nhìn kỹ lại bức chữ của mình. “Tối hậu” nghĩa là rất dày, rất béo; “tối trường” nghĩa là rất dài, rất lêu đêu. Lời khen của bà Huyện vừa khéo léo dùng điển tích để ca ngợi phúc đức nhà vua dày sâu, tuổi thọ dài lâu, nhưng thực chất là đang “chê” khéo cái hình thể của hai chữ ấy một cách cực kỳ hóm hỉnh. Vua Minh Mạng hiểu ra ý đồ của nữ giáo tập, nhưng không những không giận mà còn bật cười sảng khoái, gật đầu khen ngợi:
– Ngươi thật là khéo léo! Chẳng trách người ta nói văn chương Bắc Hà sắc sảo đến từng sợi tóc.
Lại một lần khác, triều đình đón nhận một lô đồ sứ ký kiểu được đặt làm từ bên Trung Hoa gửi sang. Đây là những bộ đồ trà quý giá, vẽ cảnh sơn thủy hữu tình của nước Nam nhưng lại do bàn tay nghệ nhân phương Bắc chế tác. Vua Minh Mạng rất tâm đắc với bộ chén này, bèn cho gọi những người am tường thi phú trong cung đến cùng thưởng lãm. Nhìn những chén trà nhỏ xíu, men trắng như tuyết, vẽ cảnh núi non trùng điệp, mây nước vờn quanh, nhà vua muốn có một câu thơ xứng tầm để đề vào bộ đồ trà này cho thêm phần trang trọng. Vua quay sang bà Huyện:
– Ngươi vốn giỏi thơ, hãy thử đề cho Trẫm hai câu làm sao nói lên được cái hồn cốt của bộ chén này.
Bà Huyện Thanh Quan cầm chiếc chén lên, cảm nhận cái lạnh của men sứ và cái ấm của hồn quê hương được vẽ trên đó. Không cần suy nghĩ quá lâu, bà hạ bút:
“Như in thảo mộc trời Nam lại,
Đem cả sơn hà đất Bắc sang.”
Hai câu thơ vang lên khiến cả gian điện như bừng sáng. Nó vừa tả thực việc đem cảnh sắc Việt để vẽ vào sứ, mà còn mang một tầm vóc hào sảng, thể hiện lòng tự tôn dân tộc sâu sắc. “Thảo mộc trời Nam” và “Sơn hà đất Bắc” đặt cạnh nhau tạo nên một sự đối xứng tuyệt vời, biến một vật phẩm cung đình thành một biểu tượng của văn hóa. Vua Minh Mạng đọc đi đọc lại, tấm tắc khen ngợi mãi không thôi.
Những đêm trắng chốn lầu son Tuy được nhà vua trọng dụng, nhưng cuộc sống chốn cung đình không khỏi khiến một tâm hồn tự do như bà Huyện cảm thấy ngột ngạt. Nghe tiếng chuông chùa Thiên Mụ vọng về từ phía xa, bà lại nhớ về Thăng Long, nhớ về làng Nghi Tàm với những rặng liễu ven hồ Tây. Các công chúa, phi tần rất yêu quý bà. Bà dạy họ rằng, người phụ nữ dù ở trong cung vàng điện ngọc hay ở lều tranh vách đất, cái quý nhất vẫn là cái tâm sáng và sự thấu cảm với nhân gian.
Những ngày tháng ở Huế là đỉnh cao của danh vọng nhưng cũng là khởi đầu cho những nỗi buồn man mác. Khi ông Lưu Nguyên Ôn bắt đầu lâm bệnh, bà thường xuyên phải xin phép rời cung để về chăm sóc chồng. Không gian cung đình xa hoa bắt đầu nhuốm màu trầm mặc trong mắt nữ sĩ. Cái chết của chồng vào năm 1847 như một đòn giáng mạnh vào tâm hồn bà. Kinh thành Huế với bà giờ đây không còn là nơi để thi thố tài năng, mà là một vùng ký ức đau thương. Bà bắt đầu dâng đơn xin được từ quan, đưa các con trở về quê cũ. Dù vua Tự Đức (lúc này đã lên ngôi thay vua Minh Mạng) rất mực muốn giữ bà lại để tiếp tục dạy dỗ các cung nữ, nhưng bà vẫn kiên quyết. Bà biết rằng, con chim bao năm bay lượn chốn lầu son, giờ đây chỉ muốn tìm về tổ cũ, nơi có tiếng sâm cầm vỗ cánh trên mặt hồ Tây mờ sương.
“Tập truyện ngắn này được xây dựng dựa trên những giai thoại văn học và câu chuyện truyền tụng trong dân gian về cuộc đời nữ sĩ Bà huyện Thanh Quan. Với mục đích khắc họa chân dung một tâm hồn tài hoa và nghĩa khí, người viết đã sử dụng yếu tố hư cấu, sắp xếp lại các tình tiết để tăng thêm tính sinh động và hấp dẫn. Các nội dung trong truyện mang tính chất sáng tác văn học, không được xem là tư liệu học thuật, sử liệu chính thống hay các khẳng định tuyệt đối về cuộc đời thật của nhân vật lịch sử. Trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một góc nhìn giàu cảm xúc về “Bà Huyện Thanh Quan” trong dòng chảy văn hóa Việt Nam.”
Thanh Ngân





