Những năm triều Nguyễn, đất Thái Bình vốn dĩ yên ả với những rặng liễu ven đê và tiếng sóng vỗ rì rào từ cửa biển. Nhưng cái yên bình ấy thỉnh thoảng lại bị xáo động bởi những lá đơn kiện cáo lặt vặt của dân tình, và đặc biệt là sự hiện diện của một “bà Quan” không giống bất kỳ phu nhân tri huyện nào trên dải đất Việt này. Bà Huyện Thanh Quan – nhũ danh Nguyễn Thị Hinh, vốn là con nhà trâm anh thế phiệt đất Thăng Long. Cha bà, cụ Nguyễn Lý, từng đỗ Thủ khoa, nên từ bé bà đã tắm mình trong bể kinh thư. Khi theo chồng là ông Lưu Nguyên Ôn về nhậm chức tại Thái Bình, bà mang theo cả cái phong lưu, cốt cách về vùng đất lúa.
Một buổi sáng mùa xuân, nắng hắt lên án thư trong dinh huyện. Ông huyện Lưu Nguyên Ôn hôm ấy có việc quan phải đi công cán cách huyện lỵ vài dặm từ tờ mờ sáng. Bà Huyện đang thong thả mài mực, định bụng họa lại mấy nhành lan mới nở ngoài hiên thì bỗng nghe tiếng trống kêu oan dồn dập ngoài cổng phủ. Lính lệ vào báo:
– Thưa Bà, có một thiếu phụ tên Nguyễn Thị Đào, người trong huyện đòi vào gặp Quan để đệ đơn ly hôn.
Bà Huyện đặt nhẹ thỏi mực xuống khay, khẽ nhíu mày. Thời bấy giờ, chuyện đàn bà con gái tự thân đi kiện chồng để xin ly hôn là chuyện hiếm, nếu không muốn nói là động trời. Bà truyền cho gọi vào. Nguyễn Thị Đào bước vào, gương mặt thanh tú nhưng hằn rõ vẻ u uất. Cô quỳ xuống, hai tay dâng lá đơn bằng giấy bản đã sờn mép. Cô trình bày trong nước mắt rằng: chồng cô vốn là kẻ trăng hoa, ruồng rẫy vợ, bỏ mặc nhà cửa không ngó ngàng, chẳng khác nào để cô sống kiếp “vợ không chồng”. Cô xin được cắt đứt duyên nợ để đi tìm hạnh phúc khác.
Bà Huyện cầm lá đơn, đọc từng dòng chữ đầy đau khổ. Nhìn người phụ nữ trước mặt đang tuổi xuân sắc mà héo úa vì một người chồng tệ bạc, lòng trắc ẩn của một nữ sĩ vốn nhạy cảm bỗng trỗi dậy. Bà hiểu rằng, nếu đợi ông Huyện về, với tính cách cẩn trọng và nề nếp của quan trường, chắc chắn ông sẽ khuyên giải “gương vỡ lại lành” hoặc bảo cô về chờ xét hỏi thêm, khiến tuổi xuân của cô càng thêm mòn mỏi. Bà liếc nhìn nghiên mực vừa mài sóng sánh, rồi lại nhìn cô Đào. Một ý nghĩ táo bạo lóe lên. Bà cầm bút lông, hạ bút viết bốn câu thơ lục bát ngay vào lề tờ đơn:
“Phó cho con Nguyễn Thị Đào,
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?
Chữ rằng: Xuân bất tái lai,
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già!“
Nét chữ phượng múa rồng bay của bà Huyện khiến cô Đào ngẩn ngơ. Bà mỉm cười, giọng nhẹ nhàng nhưng cương quyết:
– Cầm lấy, về mà lo liệu lấy tương lai. Đời người con gái có thì, đừng để cái “xuân” ấy tàn theo năm tháng bạc bẽo.
Cô Đào lạy tạ ra về, lòng nhẹ bẫng như trút được gánh nặng nghìn cân. Bà Huyện nhìn theo, thở dài một tiếng rồi lại tiếp tục quay về với nhành lan trên giấy. Bà không ngờ rằng, chính cái “phóng khoáng” này lại gieo mầm cho một biến cố lớn của gia đình sau này.
Chuyện cô Đào vừa êm xuôi được vài hôm thì lại có một vị khách đặc biệt tìm đến công đường. Lần này là một ông tân khoa Hương cống. Ông này mặt mày hớn hở, tay cầm đơn tiến vào. Khốn nỗi, ông Huyện vẫn chưa về. Bà Huyện lại phải đứng ra “tiếp khách”. Ông Hương cống thưa rằng: vì mới đỗ đạt vinh hiển, lại sắp đến giỗ cha, ông muốn mổ một con trâu để khao làng và tế lễ cho thật linh đình. Nhưng ngặt một nỗi, thời bấy giờ triều đình nhà Nguyễn cực kỳ khắt khe trong việc bảo vệ sức kéo nông nghiệp. Vua đã ban lệnh cấm giết mổ trâu bò bừa bãi. Muốn mổ trâu phải có đơn từ, lý do chính đáng và được quan địa phương phê chuẩn, bằng không sẽ bị phạt rất nặng. Bà Huyện nghe xong, nhìn vẻ mặt hợm hĩnh của vị tân khoa đang háo hức khoe khoang cái danh “ông Cống”. Bà vốn ghét thói khoa trương của đám hủ nho, nhưng lại là người thấu hiểu đạo hiếu. Nhìn lá đơn xin mổ trâu, bà chợt nảy ra một ý định “lỡm” vị Hương cống này một vố cho bõ ghét cái thói lên mặt. Bà cầm bút, phê thẳng vào đơn hai câu thơ:
“Người ta thì chẳng được đâu,
Ừ thì “ông Cống” làm trâu thì làm!”
Ông Hương cống nhận đơn, đọc xong thì mặt nghệt ra. Chữ “làm trâu” ở đây vừa có nghĩa là cho phép ông mổ trâu làm lễ, nhưng cũng mang hàm ý mỉa mai rằng nếu ông thích như trâu thì cứ việc. Nhưng vì đang cần việc, lại thấy có chữ “Ừ” (cho phép) của bà Huyện, ông đành ngậm bồ hòn làm ngọt, gật đầu lia lịa rồi cáo lui về mổ trâu thật.
Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ cũng đồn xa. Chuyện bà Huyện Thanh Quan “thăng đường xử án” bằng thơ lan khắp. Người dân thì thích thú vì bà xử tình, xử lý thấu đáo lại phong nhã. Nhưng giới quan lại địa phương thì không. Người chồng của cô Đào, vốn có chút quan hệ với quan trên, thấy vợ mình đi lấy chồng khác dựa trên lời phê của bà Huyện thì đâm đơn kiện lên tận Phủ, tỉnh. Hắn cho rằng bà Huyện đã lạm quyền, phá vỡ gia pháp, làm đảo lộn tôn ti trật tự. Lại thêm chuyện ông Hương cống mổ trâu bị coi là vi phạm lệnh cấm của triều đình nếu không có lý do bất khả kháng. Quan trên nắm được thóp, bèn tâu báo về kinh. Kết quả, ông Lưu Nguyên Ôn bị giáng chức.
Một buổi chiều mùa thu, trong dinh huyện, đồ đạc đã được thu xếp gọn gàng vào hòm xiểng. Ông huyện Lưu nhìn vợ, không một lời trách móc. Bà Huyện đứng bên cửa sổ, nhìn ra cánh đồng xa xăm. Bà khẽ nói:
– Chàng có hận thiếp không? Vì mấy câu thơ mà khiến chàng mất chức, phải rời nơi này trong cảnh không mấy vinh hiển.
Ông Lưu Nguyên Ôn mỉm cười, nắm lấy tay vợ:
– Chức tước là vật ngoại thân, còn nhân nghĩa mới là cái gốc. Vả lại, kinh đô Huế đang cần người, biết đâu đây lại là cơ hội để nàng mang tài năng ấy vào giúp ích cho triều đình?
Bà Huyện Thanh Quan khẽ gật đầu. Những vần thơ phê trên lá đơn kia là tiếng lòng của một phụ nữ muốn bảo vệ cái tình, cái nghĩa ở đời. Chiếc thuyền chở gia đình bà huyện Thanh Quan rời bến Thái Bình, xuôi dòng về phía Nam. Trên bến, những người từng được vợ chồng bà giúp đỡ đứng nhìn theo, lưu luyến.
“Những truyện ngắn này được xây dựng dựa trên những giai thoại văn học và câu chuyện truyền tụng trong dân gian về cuộc đời nữ sĩ Bà huyện Thanh Quan. Với mục đích khắc họa chân dung một tâm hồn tài hoa và nghĩa khí, người viết đã sử dụng yếu tố hư cấu, sắp xếp lại các tình tiết để tăng thêm tính sinh động và hấp dẫn. Các nội dung trong truyện mang tính chất sáng tác văn học, không được xem là tư liệu học thuật, sử liệu chính thống hay các khẳng định tuyệt đối về cuộc đời thật của nhân vật lịch sử. Trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một góc nhìn giàu cảm xúc về “Bà Huyện Thanh Quan” trong dòng chảy văn hóa Việt Nam.”
Thanh Ngân





