Trong ký ức của làng văn Việt Nam, nhà văn Kim Lân thường được nhắc đến như một người hiền lành, mộc mạc, nói chuyện duyên và có cái cười rất hiền. Văn ông cũng vậy: giản dị, chân chất, nhưng bên trong luôn ấm nóng tình người.
Nhưng nếu hỏi những người thân trong gia đình, họ sẽ kể rằng Kim Lân không chỉ là một nhà văn. Ông còn là một người chồng rất tình cảm, đến mức đôi khi… hơi vụng về đáng yêu.
Và một trong những kỷ niệm khiến người ta vừa buồn cười vừa cảm động nhất về ông chính là câu chuyện vợ ông, phu nhân Nguyễn Thị Tám, mang bầu người con đầu lòng là ái nữ, họa sĩ Nguyễn Thị Hiền. Một câu chuyện mà nếu không do chính người trong gia đình và “hộ sinh bất đắc dĩ” – nhà văn Nguyên Hồng, kể lại, có lẽ ít ai tin rằng nó từng xảy ra với một nhà văn nổi tiếng.
***
Chuyện xảy ra vào năm 1946 ở vùng quê Kinh Bắc. Lần đó, đến gần ngày bà Tám sinh, hai nhà văn Kim Lân và Nguyên Hồng chở bà đi qua chợ Dầu, Đình Bảng (nay thuộc thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh) để đến nhà hộ sinh. Nghe qua thì tưởng đơn giản. Nhưng mọi chuyện bắt đầu rắc rối khi… đứa trẻ trong bụng mãi không chịu ra!
Cứ thế, cả hai người họ đi tới đi lui như một cuộc dạo chợ bất đắc dĩ. Ấy thế mà, những bà, những chị em bán hàng trong chợ, những người phụ nữ duyên dáng và hiền hòa tới mức ám ảnh vào tận “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, nhìn thấy cảnh ấy, thì chẳng còn giữ nổi ý tứ nữa, cứ bụm miệng cười. Một nhà văn nổi tiếng của xứ Kinh Bắc giờ thì đang mặt đỏ tía tai, tất tả đưa vợ đi sinh mà đứa trẻ thì cứ “cố thủ” trong bụng.
Cuối cùng, người dân chợ Dầu phán một câu rất chắc nịch:
– Đứa trẻ này bướng lắm. Muốn nó ra đời thì chồng phải trèo qua nóc nhà ba lần rồi lội qua ao thì vợ mới đẻ được!
Câu nói ấy vốn chỉ là một kiểu mẹo dân gian, nửa đùa nửa thật. Nhưng không hiểu vì quá lo lắng hay vì… quá tin, Kim Lân nghe xong thì cứ nghĩ ngợi mãi. Thôi thì cứ quy về một mối là vì tâm lý “Có bệnh thì vái tứ phương” mà thôi.
Nguyên Hồng, vốn nổi tiếng tinh quái, thì lại để ý xem ông bạn mình có làm theo thật không.
Và đúng như dự đoán.
Một hôm, khi mọi người vắng mặt, Nguyên Hồng đến rình bắt gặp một cảnh tượng rất… khó quên. Nhà văn Kim Lân đang leo tót lên nóc nhà.
Leo lên.
Chạy qua.
Leo xuống.
Rồi lại leo lên.
Đúng ba lần.
Sau đó ông vén quần, lội qua cái ao trước nhà.
Vừa làm, vừa ngó nghiêng xem có ai nhìn thấy không, bởi nếu bị bắt gặp, chắc khó mà giải thích với thiên hạ rằng: nhà văn tài hoa Kim Lân đang… thực hành một nghi thức dân gian hỗ trợ sản khoa chỉ vì mong vợ mình sinh nở thuận lợi.
Cảnh tượng ấy khiến Nguyên Hồng không nhịn nổi nữa, phải ôm bụng cười.
Nhưng điều khiến câu chuyện trở nên thần kỳ là: Ngày hôm sau, bà Tám hạ sinh thật! Đứa bé ấy chính là Nguyễn Thị Hiền, người sau này không chỉ là một họa sĩ tài ba, mà còn là pho sử sống về cuộc đời của cha mình cùng rất nhiều các văn hào, thi hào trong thế kỷ XX.
Khổ nỗi, chính vì giai thoại ra đời rất… lạ lùng như vậy, thành thử ra, mỗi lần “hộ sinh bất đắc dĩ” – nhà văn Nguyên Hồng – đến nhà, nhìn thấy họa sĩ Hiền, ông lại phá lên cười và kể lại giai thoại này. Câu chuyện này đã lùi xa trong quá khứ. Tuy nhiên vì được nghe nhà văn Nguyên Hồng kể lại nhiều lần nên nội dung của nó đã in đậm trong ký ức và trở thành kỷ niệm đáng nhớ của bà, mỗi khi nhớ về người cha của mình.
***
Và cũng từ việc hỗ trợ sinh con gái đầu lòng mà tình bạn giữa Kim Lân và Nguyên Hồng cung này một thắm thiết.
Trong những ngày tản cư lên xóm Cầu Đen – đồi Cháy tại An toàn khu Nhã Nam-Yên Thế (nay thuộc Thái Nguyên), hai gia đình của hai ông cũng là hai gia đình đầu tiên định cư ở đó. Khi các văn nghệ sĩ lên ở ngày một đông, họ được cấp 15 mẫu đất để dựng nhà cửa, sản xuất, quần tụ đoàn kết, bao bọc lẫn nhau cùng vượt khó sinh sống trên mảnh đất mới. Và điều đặc biệt là trong thời kỳ này, các văn nghệ sĩ, trong đó có cả Kim Lân, Nguyên Hồng, đã cho ra đời không ít những tác phẩm bất hủ để đời. Xóm Cầu Đen chợt trở nên đông vui, đầm ấm. Gia đình nhà văn Nguyên Hồng ban đầu ở tạm trong một căn nhà lá đơn sơ. Rồi dần dần qua thời gian, dưới sự nỗ lực của gia đình và giúp đỡ của anh em bạn bè, một ngôi nhà lợp tranh vách trát đất, rồi tới ngôi nhà xây ba gian lợp ngói, đã được dựng.
Cho mãi đến cuối năm 1954, sau khi giải phóng Thủ đô, các gia đình mới chuyển về Hà Nội. Chỉ có riêng Nguyên Hồng là thấy nhớ rừng nhớ núi quá, nên đến năm 1957 đã quyết định đưa vợ con quay trở lại xóm Cầu Đen ở cho tới lúc qua đời. Dù vậy, cứ khi nào có dịp về Hà Nội, Nguyên Hồng vẫn luôn ưu tiên trở về nhà Kim Lân để tâm sự công việc, chuyện đời, chuyện gia đình…
***
Có lẽ vì vậy mà khi nhớ về cha mình, họa sĩ Nguyễn Thị Hiền không chỉ nhớ đến một nhà văn. Bà nhớ đến một người cha hiền lành, chân thật, đôi khi lúng túng đến vụng về, nhưng lại yêu vợ, thương con theo cách rất sâu sắc. Đồng thời cũng nhớ về nhà văn Nguyên Hồng như một người bạn hảo sảng và nghĩa tình. Một người vì những tổn thương khi thiếu thốn hơi ấm của gia đình từ khi còn thơ ấu mà quyết định bằng mọi cách vun vén cho tổ ấm của bạn bè.
Cũng chính từ những tình cảm đời thường như thế mà văn chương của Kim Lân, Nguyên Hồng giai đoạn sau này luôn ấm áp một thứ ánh sáng rất đặc biệt: ánh sáng của tình người trong những phận đời giản dị.
Nhìn lại câu chuyện năm xưa, cảnh một nhà văn hiền lành lén leo lên nóc nhà rồi lội qua ao để mong vợ sinh nở bình an, người ta có thể bật cười. Nhưng cười xong, lại thấy lòng mình chợt ấm lại. Bởi sau cái cảnh tượng có phần ngô nghê ấy là một điều rất giản dị: Một khi đã yêu thương gia đình, người đàn sẵn sàng làm bất cứ điều gì, dù có ngốc nghếch đến đâu, chỉ để mong mẹ con được tròn vuông.
Ngô Tiến Vinh





