THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ

Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi cao và những lời thề sống chết. Nhưng Nguyễn Thị Thiếu Anh lại viết “Thời trăng mật” bằng những việc rất đỗi bình thường. Gần như chẳng có hành động nào lớn lao. Nhưng mấy ai ngờ, những điều nhỏ bé ấy lại tạo nên một trong những bài thơ tình đẹp nhất của Nguyễn Thị Thiếu Anh.

***

Tác phẩm được Nguyễn Thị Thiếu Anh viết tại Phan Rang vào mùa hè năm 1941, trong những ngày đầu hôn nhân với bác sĩ Đặng Văn Ấn. Cuộc hôn nhân ấy vốn là lời giao ước giữa hai gia đình khoa bảng, có từ trước cả khi Thiếu Anh ra đời. Khi bà lên bảy, hai họ chính thức nhận nhau là thông gia. Đặng Văn Ấn, hơn bà hai tuổi, trở thành người chồng được người lớn lựa chọn từ thuở cả hai vẫn còn là trẻ nhỏ.

Đến năm Thiếu Anh mười sáu tuổi, Đặng Văn Ấn mới vào Huế gặp lại vị hôn thê. Hai người ngồi bên nhau suốt nhiều ngày nhưng ngượng ngùng đến mức câu chuyện chỉ quanh quẩn chuyện thời tiết và cây nhãn trong vườn.

Thế rồi khi chàng trai rời Huế, Thiếu Anh lại nhận ra chiếc ghế quen thuộc bỗng trở nên trống vắng. Bà chủ động viết thư, thẳng thắn tuyên bố rằng hôn nhân không có tình yêu sẽ khó lòng hạnh phúc. Nếu Đặng Văn Ấn chỉ thuận theo ý gia đình, bà sẵn sàng xin cha hủy bỏ lời giao ước giữa hai họ.

Bởi vậy, “Thời trăng mật” là niềm hạnh phúc thật sự của một người phụ nữ nhận ra cuộc hôn nhân từng được định trước đã trở thành tình yêu do hai người tự nguyện vun đắp.

***

Trước ngày cưới giữa cả hai là những năm tháng đợi chờ, những lần gặp nhau ngắn ngủi rồi lại chia xa, những lá thư phải vượt qua khoảng cách giữa hai miền. Bởi vậy, niềm vui của tuần trăng mật trước hết nằm ở việc từ nay họ được “hẳn cùng nhau”. Bây giờ, hai người đã thật sự trở thành vợ chồng. Việc được thức dậy, ăn ở và đi qua một ngày bên nhau đã trở thành cuộc sống.

Thiếu Anh cũng không tô hồng hôn nhân đến mức giả tạo. Bà viết rằng từ đây hai người sẽ cùng hưởng niềm vui, cùng chịu khổ đau, thậm chí cùng trải qua những lần giận dỗi. Vợ chồng vẫn có thể bất hòa. Điều đáng quý là cơn giận ấy chẳng kéo dài bao lâu.

Chỉ bằng vài câu đơn giản, Thiếu Anh đã nói được một điều rất thật về hôn nhân: hạnh phúc không có nghĩa là hai người chẳng bao giờ giận nhau, mà là sau những lần giận dỗi, họ vẫn muốn trở về bên nhau.

***

Những khổ tiếp theo đưa người đọc đi qua trọn một ngày của đôi vợ chồng trẻ. Buổi sáng bắt đầu bằng tiếng chim trước mành. Hai người thức dậy, nhìn nhau âu yếm rồi kể cho nhau nghe những giấc mơ. Niềm vui chỉ là người đầu tiên ta nhìn thấy khi mở mắt cũng là người sẵn lòng nghe ta kể lại những điều vừa xuất hiện trong giấc ngủ.

Có lúc Đặng Văn Ấn vẫn còn ngủ ngon. Thiếu Anh không đánh thức chồng. Bà nhẹ chân ra vườn, hái hoa rồi đem vào cắm bên bàn. Một hành động nhỏ, nhưng diễn tả rất rõ cách bà vun đắp hạnh phúc. Thiếu Anh muốn ngày sống của hai người luôn tươi thắm, nên tự tay mang một chút sắc hoa vào căn phòng chung.

Đến buổi trưa, không gian càng bình dị hơn. Ngoài trời nắng gắt. Bướm bay bên tường. Trong nhà, người chồng ngồi học, người vợ ngồi vá may. Đây có lẽ là hình ảnh đẹp nhất bài thơ, hệt như dệt nên một túp lều hạnh phúc lý tưởng. Chỉ cần biết người kia đang ở gần đã đủ khiến buổi trưa yên lặng trở thành hạnh phúc. Tình yêu lúc này đã bước vào đời sống.

Câu thơ dùng toàn những chữ quen thuộc: học, ngồi, vá, may. Chẳng chữ nào tự nó có vẻ thi vị. Nhưng khi được đặt cạnh nhau, chúng tạo thành một mái ấm. Đây chính là tài năng đặc biệt của Nguyễn Thị Thiếu Anh: bà không biến đời thường thành điều gì xa lạ, mà phát hiện chất thơ vốn đã nằm sẵn trong đời thường.

Buổi chiều xuống lúc nào, đôi vợ chồng trẻ cũng chẳng hay. Họ ra bãi cát, nắm tay nhau đi thong thả bên dòng nước. Một lần nữa, các động từ được sử dụng rất đơn giản: Cầm tay. Dạo bước. Ngồi xuống. Dựa sát bên nhau. Không có những hình ảnh tình yêu mãnh liệt. Cũng chẳng xuất hiện lời tuyên bố rằng họ sẽ mãi mãi không rời. Nhưng nhịp bước chung và hai trái tim cùng nhịp đã đủ nói lên sự hòa hợp.

Khi trăng lên, Thiếu Anh nhân hóa “chị Hằng” thành người đang nhìn xuống trêu ghẹo đôi vợ chồng trẻ. Cách gọi ấy khiến khung cảnh bớt trang trọng, trở nên nghịch ngợm và rất gần với tính cách của bà. Thiếu Anh vui vẻ đáp lại rằng chẳng có gì đáng cười. Hai người chỉ vì mỏi chân nên ngồi xuống bên nhau. Thế nhưng, từ phía xa, bóng của họ đã nhập thành hình ảnh thân mật nhất: Đầu sát đầu.

Chỉ một cái bóng đã kể hết.

***

Một đặc điểm nổi bật của bài thơ là sự lặp lại những từ chỉ sự gắn kết: “Đôi ta”, “cùng nhau”, “chung”, “đôi tim”, “đôi bạn trẻ”. Các từ ấy không cầu kỳ, nhưng liên tục tạo cảm giác hai con người đang rời khỏi trạng thái riêng lẻ. Trước hôn nhân là anh ở Hà Nội và em ở Huế. Trong bài thơ, họ đã trở thành “đôi ta”. Niềm vui được hưởng chung. Khổ đau sẽ cùng chịu. Giận dỗi rồi cùng hóa giải. Buổi sáng cùng kể chuyện. Buổi trưa cùng ở dưới một mái nhà. Buổi chiều cùng bước. Đến cái bóng cũng là bóng của “đôi ta”.

Hạnh phúc trong “Thời trăng mật” vì thế được tạo nên chủ yếu từ sự đồng hành, là hai người trẻ đang học cách sống cạnh nhau.

Khổ cuối gần như là lời tự nhận xét của Thiếu Anh về chính bài thơ: Hạnh phúc của hai người “chẳng rộn lời”. Họ chỉ mong núi sông ghi nhớ rằng đã từng có những ngày vui như thế. Sự giản dị ấy khiến đoạn kết trở nên xúc động.

Có lẽ Thiếu Anh đã sớm cảm nhận rằng những ngày bình yên luôn mong manh. Và đúng thế thật! Chỉ vài năm sau, thời cuộc đẩy hai vợ chồng vào chiến tranh và những cuộc xa cách dài. Đặng Văn Ấn trở thành bác sĩ quân y, đi qua nhiều chiến trường. Thiếu Anh ở lại quê chồng, phụng dưỡng mẹ già và nuôi ba con nhỏ.

Bởi vậy, khi đọc lại, “Thời trăng mật” giống một chiếc bình lưu giữ những ngày bình yên hiếm hoi trước bão táp.

***

Giá trị đặc biệt của “Thời trăng mật” nằm ở việc bài thơ không săn tìm những chữ “đẹp”. Nguyễn Thị Thiếu Anh dùng thứ ngôn ngữ gần như ai cũng có thể hiểu ngay. Toàn những việc nhỏ. Toàn những chữ thường. Thế nhưng, dưới cái nhìn của một người đang hạnh phúc, mọi hành động bình dị đều phát sáng. Đó là đỉnh cao khó đạt của sự giản dị.

Viết cầu kỳ có thể khiến người đọc khâm phục người làm thơ.

Viết giản dị mà vẫn khiến người đọc cảm nhận được tình yêu lại đòi hỏi cảm xúc phải đủ chân thật.

Cuộc hôn nhân của Nguyễn Thị Thiếu Anh và Đặng Văn Ấn có thể đã bắt đầu bằng lời giao ước của người lớn.

Nhưng cách mà “Thời trăng mật” lấp lánh trong bình dị đã chứng minh hạnh phúc của họ không phải kết quả tự nhiên của sự sắp đặt ấy.

***

Thời trăng mật

Đây thời sum họp của đôi ta
Sau những bao năm, tháng đợi chờ
Sau những ngày vui ôi ngắn ngủi
Để rồi chia biệt nhớ vu vơ

Từ nay ta được hẳn cùng nhau
Chung hưởng yên vui lẫn khổ sầu
Và cũng cùng nhau chung giận giỗi
Nhưng hờn giận ấy có bao lâu

Thế rồi có những sáng bình minh
Rộn rã đôi chim hót trước mành
Ta dậy nhìn nhau âu yếm kể
Cho nhau những giấc mộng hiền lành

Cũng có nhiều mai anh ngủ ngon
Một mình em nhẹ bước ra vườn
Hái hoa vào cắm bên bàn để
Ngày của đôi ta tươi thắm luôn

Có những trưa nồng nắng gắt gay
Bên tường bướm lượn nhởn nhơ bay
Trong hè yên lặng, qua khe cửa
Anh học em ngồi bên vá may

Chiều xuống bao giờ ai có hay
Như không muốn động phút nồng say
Của đôi bạn trẻ đang ngây ngất
Lặng hưởng trong mơ hạnh phúc đầy

Rồi bên bãi cát rộng mênh mông
Vạn vật chìm trong ánh nắng hồng
Như hẹn cùng nhau nhường vắng vẻ
Cho ta tình tự ở ven sông

Cầm tay nhau dạo bước thung thăng
Chung điệu đôi tim đập nhịp nhàng
Quên cả chiều rơi trong bóng tối
Chị hằng cười ghẹo ở trên không

Trăng đừng cười nữa có gì đâu
Chân mỏi ta ngồi xuống cạnh nhau
Ờ nhỉ đằng xa trên bãi cát
In bóng đôi ta: Đầu sát đầu

Thế rồi yên lặng, thế rồi thôi
Hạnh phúc đôi ta chẳng rộn lời
Chỉ muốn núi sông ghi nhớ mãi
Đây thời trăng mật. Những ngày vui


Phan Rang – hè năm 1941

(Nguồn: Thivien.net)

Ngô Tiến Vinh