Tính cộng đồng trong xã hội nông nghiệp truyền thống xưa của người Việt cực kỳ cao. Người ta sống trong một cái làng nơi mà “tai vách mạch dừng”, ai cũng biết ai. Nếu một chàng trai đến trước mặt một cô gái và nói: “Tôi yêu cô, cô có yêu tôi không?”, và nhận lại một cái lắc đầu lạnh lùng, đó sẽ là một thảm họa. Chàng trai sẽ mất mặt với xóm giềng, cô gái cũng bị mang tiếng là kiêu kỳ, và mối quan hệ giữa hai gia đình có thể bị rạn nứt. ​Có lẽ để giải quyết bài toán này, người Việt đã sáng tạo ra nghệ thuật “thả thính” thông qua các vật trung gian. Nếu đối phương từ chối vật trung gian, có nghĩa là họ từ chối tình cảm, nhưng đôi bên vẫn giữ được thể diện. ​

Từ xa xưa thẩm mỹ của người Việt đã chuộng sự “lửng lơ”. Trong nghệ thuật, chúng ta thích vẻ đẹp của sự nửa kín nửa hở (như tà áo dài hay chiếc nón lá). Trong tình yêu cũng vậy, trạng thái “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” mới là giai đoạn đẹp nhất, kích thích trí tưởng tượng và cảm xúc nhất. Lời tỏ tình vòng vo kéo dài thời gian “đoán già đoán non”, biến cuộc tình thành một trò chơi trí tuệ duyên dáng giữa hai bên. ​

​Trước tiên hãy bước vào không gian văn hóa miền Bắc – cái nôi của văn hóa Việt, chúng ta sẽ thấy nghệ thuật “thả thính” đạt đến độ tinh xảo bậc nhất. ​Hãy xem lại bài ca dao kinh điển của đồng bằng sông Hồng để thấy sự đáng yêu của một chàng trai nông thôn khi muốn tiếp cận cô gái: ​

“…Áo anh sứt chỉ đường tà,

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu.

Áo anh sứt chỉ đã lâu,

Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng….”

Chàng trai đi một vòng: bắt đầu bằng việc phơi bày một khuyết điểm (áo sứt chỉ), sau đó đưa thông tin cá nhân (vợ chưa có), lôi cả người mẹ già vào cuộc để đánh vào lòng trắc ẩn của phái nữ, và cuối cùng buông một lời đề nghị: nhờ khâu áo. Cái hành động “khâu khâu đỡ đầu” ấy là một cái cớ để thiết lập giao ước tình cảm. Nếu cô gái nhận khâu, tức là cô ấy đồng ý bước vào cuộc đời anh ta. ​

Khi chiếc áo không còn hiệu quả, các chàng trai miền Bắc sẽ chuyển sang mượn đường, mượn lối, mượn cả… hàng xóm. Hoặc tinh quái hơn là mượn cái gáo, con trâu, hay thậm chí là quả cau:

“Vào vườn trảy quả cau non,

Anh thấy em giòn, muốn kết nhân duyên.

Hai má có hai đồng tiền,

Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ưa.”

​​Cái gen vòng vo ấy ngấm sâu vào máu người miền Bắc và bước vào văn học viết một cách tự nhiên. Trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, giữa bối cảnh ngột ngạt, thê thảm của nạn đói năm 1945, cái chết cận kề, người ta tưởng con người nào còn tâm trí đâu mà yêu đương, hoài mộng. Vậy mà Tràng đã “nhặt” được vợ bằng những lời bông đùa vòng vo. ​

“Muốn ăn cơm trắng với giò này,

lại đây mà đẩy xe bò với anh”.

Câu ấy nửa đùa nửa thật, mượn miếng ăn (một thứ xa xỉ lúc bấy giờ) để đưa ra một lời đề nghị gắn kết trăm năm. Người phụ nữ đi theo Tràng vì trong cái vòng vo tội nghiệp của anh, thị tìm thấy một tia hy vọng sống, một sự che chở khéo léo. ​

​Đi dọc vào dải đất miền Trung nắng gió, nơi con người có tính cách trầm ổn, kiên nghị và chịu nhiều gian khó, lời tỏ tình mang một sắc thái khác: vòng vo theo kiểu thử thách trí tuệ, mượn câu hò điệu lý để thử lòng nhau. ​Người miền Trung gắn liền cuộc sống với sông nước, biển cả và những chuyến đi xa. Vì vậy, con thuyền và cái bến trở thành những ẩn dụ nghệ thuật xuất hiện dày đặc trong những lời tỏ tình xứ Quảng: ​

“Ai về nhắn với nậu nguồn

Mít non gửi xuống cá chuồn gửi lên

Em xuôi Biển Rạng cùng anh

Được ăn rau mức nấu canh cá chuồn.” ​

Chàng trai mượn những đặc sản, món ăn của quê hương mình, sau đó khéo léo mời gọi cô gái có muốn “xuôi Biển Rạng” cùng mình. Một chút vòng vo nhưng đẹp đẽ như một bức tranh, nơi tình yêu được thăng hoa qua những biểu tượng địa danh, văn hóa.

Và nếu muốn tìm một minh chứng hiện đại cho sự vòng vo của người miền Trung, thì hẳn đó là nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Trong hầu hết các tác phẩm của ông, từ Mắt Biếc, Hạ Đỏ cho đến Còn Chút Gì Để Nhớ, các nhân vật nam chính luôn mang một nỗi sợ hãi nguyên bản trước việc nói ra lời yêu. ​Hãy nhìn vào Ngạn trong “Mắt Biếc”. Ngạn yêu Hà Lan bằng một tình yêu khắc cốt ghi tâm, kéo dài từ thời thơ ấu ở làng Đo Đo cho đến khi cả hai đã trưởng thành và nếm trải nhiều giông bão. Thế nhưng, suốt ngần ấy năm trời, Ngạn chưa bao giờ đứng trước mặt Hà Lan và nói: “Tớ yêu cậu”. Ngạn làm gì? Ngạn gửi gắm tình cảm của mình vào những bài hát tự sáng tác đầy ẩn ý, Ngạn đánh đàn guitar cho Hà Lan nghe dưới bóng cây ngô đồng, Ngạn viết những câu thơ lãng mạn dán vào tập của cô bạn. ​Sự vòng vo của Ngạn là sự trân trọng thái quá cái tình cảm thánh thiện đó, sợ rằng một lời nói thẳng ra sẽ làm tan vỡ cái thế giới mộng mơ mà mình đã dựng lên. Chính cái sự vòng vo đầy day dứt ấy đã tạo nên sức hấp dẫn kinh điển của tác phẩm, khiến hàng triệu độc giả phải thổn thức.

​Có nhiều ý kiến cho rằng người miền Nam thẳng thắn, nghĩ gì nói nấy, “yêu thì nói yêu, không yêu thì nói một từ cho xong”. Đúng là người Nam Bộ bộc trực, nhưng đó là trong lối sống và nghĩa khí hằng ngày. Còn trong không gian Nam Bộ xưa, khi một chàng trai muốn “gá nghĩa tri âm” với một cô gái, họ vẫn tuân theo cái mạch ngầm vòng vo của văn hóa dân tộc, nhưng bằng những chất liệu bình dị, mang đậm hơi thở sông nước miền Tây. ​Mượn con cá, bông súng, nhánh mù u ​Lời tỏ tình của người miền Nam dùng ngay những thứ bình dị nhất xung quanh mình để làm cớ. Ví dụ muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương: 

“Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh 

Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương”. 

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen “mình dễ thương” mà chàng đã vòng từ thế giới tự nhiên sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ. Rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ bà, tới mẹ, rồi tới nhân vật chính – “mình”.

Trong các tác phẩm của các nhà văn đậm chất Nam Bộ như Sơn Nam hay Nguyễn Ngọc Tư, lời tỏ tình của những người nông dân miệt vườn cũng luôn hiện lên với một vẻ bẽn lẽn, vụng về ẩn sau cái bề ngoài có vẻ thô ráp. ​Một anh nông dân miền Tây thích một cô gái hàng xóm, anh ta sẽ sẽ chọn một ngày sang nhà cô gái để phụ ba cô ấy tát đìa bắt cá, phụ sửa lại cái chuồng heo hay lợp lại mấy tấm lá dừa trên mái nhà dột. Anh ta lao động cật lực, ăn bữa cơm chung với gia đình cô gái. Rồi trước khi ra về, đứng gãi đầu gãi tai bên mé hiên, anh ta mới lí nhí bảo: “Cái bắp cày nhà qua bị gãy, bữa nào qua mượn con trâu nhà bẻo (bạn) cày giùm nghen”. ​Cái sự mượn trâu, mượn cày, hay việc hẹn nhau đi chợ của người dân miệt vườn chính là mật mã tình yêu. Họ nói về sự sẻ chia lao động, về sự gắn kết cuộc sống. Lời tỏ tình vòng vo lúc này biến thành một lời cam kết về sự đồng hành, mang tính thực tế nhưng sâu sắc vô cùng. ​

Người trẻ Việt Nam thế kỷ 21, thế hệ của các ứng dụng mạng xã hội hẹn hò, có xu hướng bộc trực hơn trong việc thể hiện cái tôi cá nhân. Tuy nhiên, cái “gen vòng vo” trong tình yêu dường như vẫn chảy tràn trong huyết quản của họ, chỉ là nó được khoác lên một chiếc áo mới. ​Thay vì mượn áo sứt chỉ hay con thuyền bến nước, người trẻ ngày nay mượn các hiện tượng thời tiết, toán học, vật lý hay các xu hướng mạng xã hội để tỏ tình. ​Bản chất của những hành vi này phải chăng là sự kế thừa hoàn hảo cơ chế tâm lý của cha ông ngày xưa? Sử dụng một vật trung gian để dò xét tình cảm đối phương và bảo vệ thể diện của chính mình?

​Nhìn lại toàn bộ dòng chảy từ văn học dân gian đến văn học viết, từ Bắc vào Nam, chúng ta có thể khẳng định: Sự vòng vo trong lời tỏ tình của người Việt là kết tinh của một nền văn hóa coi trọng tình nghĩa, đề cao sự tinh tế và luôn tìm cách bảo vệ, trân trọng cảm xúc của nhau. ​Đi đường vòng trong tình yêu giúp con người có thời gian để chiêm nghiệm, để thử thách và thấu hiểu. Nó biến một hành vi bản năng (tìm kiếm bạn đời) thành một trải nghiệm văn hóa giàu tính thẩm mỹ và nghệ thuật. Giữa một thời đại công nghiệp hóa, khi mọi thứ đều bị thúc ép phải nhanh chóng, gọn gàng, thiết nghĩ cái sự “vòng vo” đáng yêu ấy của người Việt vẫn là một nét duyên thầm cần được gìn giữ, để tình yêu luôn là một quyển sách hay, cần người kiên nhẫn lật mở từng trang.

Thanh Ngân