Ngày 8/3/1969, tại Duy Xuyên, Quảng Nam, nhà văn – nhà báo Dương Thị Xuân Quý hy sinh khi mới 28 tuổi.
Người chồng của chị, nhà thơ Bùi Minh Quốc, khi ấy không có một đám tang yên ổn để khóc vợ. Trước mắt ông vẫn là chiến trường, là tiếng súng, là cuộc truy kích còn tiếp diễn. Nỗi đau riêng vừa ập xuống, nhưng người lính lại phải gói cả đau thương của mình vào từng cuộc hành quân. Từ mất mát ấy, “Bài thơ về hạnh phúc” ra đời.
Bài thơ bắt đầu như một lời tiễn biệt dành cho người vợ vừa ngã xuống. Nhưng giữa những câu thơ ấy vẫn dồn dập tiếng súng và nhịp hành quân của chiến trường miền Nam năm 1969.
Vì thế, “Bài thơ về hạnh phúc” trở thành một trong những văn bản cảm động nhất về tình yêu, mất mát và phẩm giá con người giữa chiến tranh.
***
Chị là nhà văn, nhà báo, một người phụ nữ đã chọn bước thẳng vào chiến trường ở độ tuổi còn rất trẻ. Năm 1968, chị gửi lại đứa con gái mới thôi nôi để vào miền Nam, mang theo cây bút, tuổi xuân, và một niềm tin gần như tuyệt đối vào con đường mình đã chọn. Trong đời sống bình thường, một người mẹ rời đứa con nhỏ đã là một chia cắt đau lòng. Nhưng trong hoàn cảnh ấy, Dương Thị Xuân Quý đi vào nơi cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Đi vào những trận càn, những cánh rừng, những vùng bom đạn, những ngày thiếu ăn, sốt rét, hành quân, những đêm mà trang giấy cũng có thể ướt mưa hoặc ám khói súng.
Bùi Minh Quốc – Dương Thị Xuân Quý không còn là một gia đình theo nghĩa thông thường. Họ yêu nhau, cưới nhau, có con với nhau, nhưng lại phải sống trong một nhịp thời gian luôn bị chiến tranh cắt ngang. Cả hai công tác cùng cơ quan, một tờ báo tuyên truyền của Quân Giải phóng Miền Trung Trung Bộ được đặt ở trên núi. Gặp nhau vội, xa nhau nhanh, chẳng kịp liên lạc hỏi han gì cả. Hạnh phúc của họ nằm trong những khoảnh khắc giữa đường hành quân, giữa cơ quan chiến trường, giữa những lần còn kịp nhìn thấy nhau.
Có lẽ, lần hiếm hoi tình yêu giữa cả hai được thể hiện nằm ở việc họ gom góp lại một số bài thơ và truyện ngắn đã được đăng rải rác trên các báo hay các tuyển tập, đem in thành một tuyển tập riêng tên là “Chỗ Đứng” (1968). Bởi vậy, khi có khoảng thời gian chậm lại để cả hai được giờ phút riêng tâm tình, chị hỏi chồng một câu rất đời thường:
“Vì sao anh đã viết thơ tình cho nhiều người mà chưa có bài nào cho em?”
Câu hỏi ấy nghe qua có vẻ như một lời trách yêu. Nhưng đặt vào chiến trường, nó bỗng trở nên nghẹn ngào. Một người phụ nữ đã chấp nhận rời con nhỏ, vào nơi bom đạn, sống cùng thiếu thốn và hiểm nguy, vậy mà trong sâu thẳm vẫn chỉ mong được chồng gọi tên mình bằng một bài thơ tình. Giữa chiến trường, con người ta vẫn mong những điều rất bình thường: được nhớ đến, được thương yêu, được giữ lại cho nhau một chỗ riêng trong lòng.
Bùi Minh Quốc sau này đã viết bài thơ ấy.
Nhưng nó còn là một bài thơ tình theo nghĩa êm đềm nữa.
***
Đêm 8 rạng ngày 9 tháng 3 năm 1969, tại Duy Xuyên, Quảng Nam cũ, Dương Thị Xuân Quý đã hy sinh trong một trận càn lúc mới 28 tuổi. Sự hi sinh đến quá đột ngột. “Chỗ Đứng” được Nhà xuất bản ngoài Hà Nội in. Nhưng sách in xong, gửi vào trong chiến trường miền Nam thì nữ Nhà văn Dương Thị Xuân Quý đã mãi nằm lại. “Bài thơ về hạnh phúc” mới được anh Quốc nhen nhóm ý tưởng, giờ lại phải sửa lại để làm bài điếu tang:
“Thôi em nằm lại
Với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi
Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên.
Trời chiến trường không một phút bình yên…”
Đó là một câu thơ gần như trần trụi. Một nỗi đau được gọi đúng tên.
Điều khiến bài thơ này trở nên khác biệt nằm ở cách nỗi đau ấy được đặt vào hoàn cảnh hết sức đặc thù. Ngay sau những dòng tưởng như là tiếng khóc, là một chuyển động rất khác:
“…Lấy nỗi đau vô cùng làm sức mạnh vô biên
Bước truy kích đạp trăm rào gai sắc
Ôi mũi lê này hôm nay sao sáng quắc
Anh mất em như mất nửa cuộc đời…”
Trong bài thơ, nỗi đau lặng xuống rồi hóa thành ý chí để người lính tiếp tục bước tiếp. Đó là nghịch lý tàn nhẫn nhất: con người phải tiếp tục sống, ngay tại khoảnh khắc mà đáng ra họ có quyền dừng lại.
Vì thế, nếu đọc “Bài thơ về hạnh phúc” như một bài thơ tình, có lẽ sẽ là chưa đủ.
***
Nhiều năm sau, người ta có thể đọc lại bài thơ ấy như một lời tiên tri ứng nghiệm đến gai người. Sau này, khi hòa bình lập lại, Bùi Minh Quốc đã nhiều lần đi tìm mộ vợ vào các năm 1983, 1995, 2000. Nhưng phải mãi đến chiều ngày 3 tháng 8 năm 2006, 37 năm sau ngày nữ Nhà văn hy sinh, ông mới tìm được. Trùng hợp là nơi đó chỉ cách bia tưởng niệm Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý do chính ông dựng vào năm 1996 có 30m! Ứng với câu thơ mở đầu “Bài thơ về hạnh phúc”, gia đình, đồng đội đã để chị yên nghỉ lại đất Duy Xuyên. Người ở lại tiếp tục bước qua chiến tranh, mang theo nửa cuộc đời đã mất. Còn bài thơ thì ở lại giữa hai người, như một nén hương không tắt.
***
BÀI THƠ VỀ HẠNH PHÚC
I
Thôi em nằm lại
Với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi
Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên.
Trời chiến trường không một phút bình yên
Súng nổ gấp. Anh lên đường đuổi giặc
Lấy nỗi đau vô cùng làm sức mạnh vô biên
Bước truy kích đạp trăm rào gai sắc
Ôi mũi lê này hôm nay sao sáng quắc
Anh mất em như mất nửa cuộc đời
Nỗi đau anh không thể nói bằng lời
Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy
Những viên đạn quân thù bắn em, trong lòng anh sâu xoáy
Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi
Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc.
Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc
Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường
Nhằm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương
Anh nổ súng.
II.
Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng
Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra
Cho đến ngày cất bước đi xa
Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt.
Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt
Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng
Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng
Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt
Bao giốc cao em cần cù đã vượt
Và mỗi lần ngồi nghỉ, em nhìn anh
Em nói tới những điều em định viết
Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép
Con sông Giàng gầm réo miên man
Nước lũ về… Trang giấy nhỏ mưa chan
Em vẫn viết: lòng dạt dào cảm xúc.
Và em gọi đó là hạnh phúc…
Nhớ chăng em, ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân
Em lên đường phơi phới bước chân
B.52 bom nghìn tấn dội
Kìa dáng em băng rường bước vội
Vẫn nụ cười tươi tắn ấy trên môi.
Thôn 6 Bình Dương bãi cát sóng dồi
Nắng long lanh trong mắt người bám biển
Giặc mới lui càn khi em vừa đến
Bà mẹ già kể chuyện chặn xe tăng
Quanh những bờ dương bị giặc san bằng
Đã lại mở những chiến hào gai góc
Những em bé, dưới mưa bom, vẫn đi làm đi học
Những vồng khoai ruộng lúa vẫn xanh tràn
Trong một góc vườn cháy khét lửa Na-pan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc.
Và em gọi đó là hạnh phúc…
Như chồi biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời
Em mải mê, đi giữa bao người
Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hà, Xuyên Phú…
Những mảnh đất anh hùng quyến rũ
Phút giây đầu đã ràng buộc đời em
Như tự lọt lòng từng biết mấy thân quen
Em nhỏ giao liên, mẹ hiền trụ bám
Cô du kích dịu dàng dũng cảm
Sông Thu Bồn hằng xao động tâm tư
Có tiếng hò như thực như hư
Em đã đến, tắm mình trong sóng nước
Sông kể em nghe chuyện đôi bờ thủa trước
Em mở mắt nhìn kinh ngạc những làng thôn
Và kêu lên khi được thấy cội nguồn
Mỗi sự tích trên đất này thắng Mỹ.
Em đã gặp bao anh hùng dũng sĩ
Đã cùng họ sẻ chia
Cọng rau lang bên miệng hố bom đìa
Phút căng thẳng khi vòng vây giặc siết
Nỗi thống khổ ngút ngàn không kể hết
Của một thời nô lệ đau thương
Em lớn lên bên họ can trường
Giữa bom gào đạn réo
Em đã thấy những tâm hồn tuyệt vời trong trẻo
Những con người như ánh sáng lung linh
Mỗi đêm ra đi giản dị hiến mình
Để làm nên buổi mai đầy nắng
Em bối rối, em sững sờ đứng lặng
Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc.
Và em gọi đó là hạnh phúc…
III.
Em ra đi chẳng để lại gì
Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.
Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống
Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu
Em trong anh là mùa xuân náo động
Từ phút này càng rực rỡ bao nhiêu.
8 tháng 3 – 1969
6 tháng 9 – 1969
Ngô Tiến Vinh





