Cổ Nguyệt Đường hân hoan thông báo chính thức phát động Cuộc thi Review sách “Thư Đàm Cổ Nguyệt” năm 2025! Đây là một phần quan trọng của dự án “Hội khuyến đọc”, được tổ chức bởi Salon văn chương Việt – Cổ Nguyệt Đường kết hợp cùng Khu nghỉ dưỡng Làng An Bình. Cuộc thi ra đời với mục tiêu cao cả là lan tỏa giá trị văn hóa Việt và khuyến khích văn hóa đọc, đặc biệt đối với thế hệ trẻ Việt Nam.

Đây là một dự án cộng đồng được xây dựng với mục đích hoàn toàn phi lợi nhuận, hướng đến sự phát triển bền vững của xã hội cũng như bảo tồn và kế thừa các giá trị văn hóa vượt thời đại. Chúng tôi tin rằng, mỗi bài review không chỉ là cảm nhận cá nhân mà còn là một nhịp cầu kết nối tri thức và tình yêu văn hóa giữa cộng đồng.

Giới thiệu chung

Văn hóa đọc không chỉ là một thói quen, mà là mạch ngầm nuôi dưỡng tư duy và tâm hồn dân tộc.

Trong một thời đại mà những cú chạm lướt thay thế cho sự ngẫm nghĩ, nơi thông tin trôi qua chóng vánh như những đoạn clip ngắn, việc dừng lại bên trang sách – đọc, suy tư, rồi sẻ chia – trở thành một hành động văn hóa có giá trị đặc biệt. “Thư Đàm Cổ Nguyệt” ra đời như một hành trình khơi lại dòng chảy ấy: dòng chảy của trí tuệ, của cảm xúc, của những đối thoại sâu sắc giữa người với sách và giữa người với người.

Lấy cảm hứng từ tinh thần khai phóng của Cổ Nguyệt Đường – nơi tái hiện không khí của những salon văn chương Việt xưa, cuộc thi không chỉ đơn thuần là một sân chơi review sách, mà là một cuộc đàm đạo liên thế hệ, nơi mỗi bài viết là một cánh cửa mở vào thế giới nội tâm, là nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại qua những tác phẩm văn học, lịch sử, triết học, văn hóa Việt Nam và thế giới.

Cuộc thi hướng đến việc khơi dậy tình yêu con chữ, tinh thần tự học, và khả năng tư duy phản biện của người trẻ trong thời đại số. Tại đây, bạn không chỉ trình bày cảm nhận của mình về một cuốn sách, mà còn góp một tiếng nói trong cuộc đối thoại lớn hơn – về giá trị, về bản sắc, và về cách chúng ta hiểu và yêu nền văn hóa mà mình đang sống cùng.

“Thư Đàm Cổ Nguyệt” là lời mời gọi đến với mọi tâm hồn yêu sách, yêu tri thức – cùng nhau khơi lại ánh sáng của văn hóa đọc và lan tỏa những giá trị cốt lõi của tinh thần Việt trong thế kỷ XXI.

Thư Đàm Cổ Nguyệt

Đối tượng tham gia

Cuộc thi chào đón tất cả các cá nhân có niềm yêu thích đặc biệt đối với hoạt động đọc sách và quan tâm sâu sắc đến văn hóa, văn học Việt Nam.

Cụ thể, đối tượng tham gia là:

  • Tất cả cá nhân từ 15 tuổi đến 30 tuổi, đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam.
  • Bạn có thể là sinh viên, học viên các lĩnh vực văn học, văn hóa, khoa học xã hội nhân văn, nghệ thuật, thiết kế, truyền thông…
  • Hay đơn thuần là cá nhân, nhóm yêu thích việc đọc sách, sáng tạo nội dung review, hoặc có niềm hứng thú với các hoạt động văn hóa.

Lưu ý: Các thành viên Ban Tổ chức và Hội đồng Giám khảo sẽ không được tham gia dự thi.

Thể lệ cuộc thi

Cuộc thi được tổ chức theo hình thức trực tuyến trên website conguyetduong.com Fanpage chính thức Cổ Nguyệt Đường.

Yêu cầu về bài thi

Mỗi thí sinh chỉ được gửi tối đa 01 bài viết dự thi tại mỗi vòng thi. Bài viết cần đảm bảo có tên tác giả cuốn sách.

  • Bài viết phải được trình bày mạch lạc, có chiều sâu và mang dấu ấn cá nhân (không quá 1500 chữ).
  • Ngôn ngữ dự thi là tiếng Việt, trình bày bằng font chữ Times New Roman, cỡ 14.
  • Bài dự thi phải sử dụng ngôn ngữ văn minh, không chứa nội dung đả kích, xúc phạm.
  • Nghiêm cấm hành vi sao chép bài review của người khác hoặc sử dụng AI để viết. Nếu phát hiện đạo văn, Ban Tổ chức có quyền loại bài thi ngay lập tức.

Hình thức tham gia

Thí sinh gửi bài review về địa chỉ email chính thức của chương trình: conguyetduongoffcial@gmail.com.

  • Tiêu đề email: [Thư Đàm Cổ Nguyệt 2025] Họ tên – Tên sách review. Ví dụ: [Thư Đàm Cổ Nguyệt 2025] Nguyễn Văn A – Hồ Xuân Hương và Tôi
  • Nội dung email cần ghi rõ thông tin số điện thoại và địa chỉ liên hệ của thí sinh.

Nội dung cuộc thi và tiêu chí chấm điểm

Cuộc thi gồm 2 vòng:

Vòng 1: Review tự do (Từ 09h00 ngày 13/07/2025 đến hết ngày 13/08/2025)

Người tham gia thực hiện bài viết giới thiệu, nêu cảm nhận về một cuốn sách mà bản thân tâm đắc nhất. Các cuốn sách phải được xuất bản, phát hành theo đúng quy định của Luật Xuất bản và các luật pháp liên quan. Nội dung bài review cần thể hiện:

  • Giới thiệu về cuốn sách (tác giả, ngày xuất bản, điểm đặc biệt…).
  • Điều tâm đắc nhất với cuốn sách ấy.
  • Thông điệp mà bạn muốn truyền tải qua cuốn sách. 

Vòng 2: Review cuốn sách “Hồ Xuân Hương và tôi” (Từ 09h00 ngày 21/08/2025 đến hết ngày 06/09/2025)

30 thí sinh vượt qua vòng 1 sẽ được gửi tặng cuốn sách “Hồ Xuân Hương và Tôi” của tác giả Đông Di (bản in và nộp lưu chiểu tháng 3/2025) để thực hiện bài review. Nội dung bài review cần thể hiện:

  • Giới thiệu về cuốn sách “Hồ Xuân Hương và Tôi”.
  • Nêu cảm nhận sau khi đọc cuốn sách và trình bày điều tâm đắc nhất.
  • Suy nghĩ về Salon văn chương “Cổ Nguyệt Đường”: Bày tỏ ý kiến về mong đợi và nêu ý tưởng về việc phát triển dự án cộng đồng Salon văn chương Cổ Nguyệt Đường.

Tiêu chí chấm điểm

  • Đối với Vòng 1: Review sách tự do
    • Tổng điểm tối đa: 100 điểm.
    • 60% số điểm do Ban Giám khảo chấm:
      • Nội dung (40%): Giới thiệu hợp lý, có tính hấp dẫn, đảm bảo khung nội dung, lập luận logic, có sự truyền tải thông điệp; Bài viết hoàn toàn là cảm nhận, đánh giá cá nhân (Nghiêm cấm sao chép).
      • Hình thức trình bày (10%): Bố cục rõ ràng, không sai chính tả, câu từ mạch lạc.
      • Chất lượng bài viết, tính sáng tạo và truyền tải cao (10%): Nội dung tư duy phản biện sáng tạo, truyền cảm hứng.
    • 40% số điểm là điểm tương tác:
      • 01 lượt reaction = 01 điểm (trừ biểu tượng “tức giận” và “buồn”).
      • 01 lượt comment = 02 điểm (comment văn minh, lịch sự, mang tính xây dựng).
      • 01 lượt share công khai = 03 điểm (mỗi tài khoản được share 1 lần duy nhất).
  • Đối với Vòng 2: Review sách “Hồ Xuân Hương và tôi”
    • Tổng điểm tối đa: 100 điểm.
    • 100% số điểm do Ban Giám khảo chấm:
      • Nội dung (80%): Nêu suy nghĩ, cảm xúc sau khi đọc tác phẩm “Hồ Xuân Hương và Tôi”; Liên hệ được suy nghĩ và trải nghiệm bản thân với tác phẩm; Trình bày quan điểm cá nhân về ý tưởng dự án cộng đồng Salon văn chương Cổ Nguyệt Đường.
      • Hình thức trình bày (10%): Bố cục rõ ràng, không sai chính tả, câu từ mạch lạc.
      • Chất lượng bài viết, tính sáng tạo và truyền tải cao (10%): Nội dung tư duy phản biện và sáng tạo, truyền cảm hứng.

Cách thức dự thi 

Để tham gia Cuộc thi Review sách “Thư Đàm Cổ Nguyệt” 2025, thí sinh vui lòng thực hiện theo các bước sau:

  1. Theo dõi Fanpage: Like và theo dõi fanpage chính thức của Cổ Nguyệt Đường.
  2. Nắm rõ Tôn chỉ hoạt động của Cổ Nguyệt Đường: Đọc và reaction (thả cảm xúc) vào bài viết “Tôn chỉ hoạt động của Cổ Nguyệt Đường” được đăng tải trên fanpage.
  3. Gửi bài dự thi: Gửi bài review của bạn về địa chỉ email chính thức của chương trình: conguyetduongofficial@gmail.com. Vui lòng đảm bảo email ghi rõ thông tin số điện thoại và địa chỉ liên hệ, cùng tiêu đề email theo đúng quy định.
  4. Kêu gọi tương tác: Sau khi gửi bài, thí sinh sẽ nhận được email xác nhận từ Ban Tổ chức, kèm theo link bài dự thi đã được đăng tải trên fanpage để bắt đầu kêu gọi tương tác và bình chọn.
  5. Theo dõi kết quả: Thí sinh sẽ nhận được thông báo kết quả Vòng 1 qua email và hướng dẫn chi tiết về các bước tiếp theo để tham gia Vòng 2 (nếu đủ điều kiện).

Cơ cấu giải thưởng

01 giải Nhất

  • 6.000.000 đồng tiền mặt
  • Thẻ hội viên Cổ Nguyệt Đường
  • Voucher du lịch 2 ngày 1 đêm tại Khu nghỉ dưỡng Làng An Bình trị giá 2.000.000 đồng

02 giải Nhì: (Mỗi giải)

  • 3.000.000 đồng tiền mặt
  • Thẻ hội viên Cổ Nguyệt Đường
  • Voucher giảm giá 500.000 đồng tại Khu nghỉ dưỡng Làng An Bình

03 giải Ba: (Mỗi giải)

  • 2.000.000 đồng tiền mặt
  • Thẻ hội viên Cổ Nguyệt Đường
  • Voucher giảm giá 500.000 đồng tại Khu nghỉ dưỡng Làng An Bình

05 giải Khuyến khích: (Mỗi giải)

  • 1.000.000 đồng tiền mặt
  • Thẻ hội viên Cổ Nguyệt Đường

01 giải Đặc biệt (giải Khán giả yêu thích – nhiều lượt tương tác nhất):

  • 2.000.000 đồng tiền mặt
  • Thẻ hội viên Cổ Nguyệt Đường
  • Voucher du lịch 2 ngày 1 đêm tại Khu nghỉ dưỡng Làng An Bình trị giá 2.000.000 đồng

Đặc biệt, tất cả thí sinh đạt giải đều nhận được cơ hội làm cộng tác viên nội dung cho Cổ Nguyệt Đường. Ngoài ra, 30 thí sinh được chọn vào vòng 2 sẽ được tặng một phần quà lưu niệm đặc biệt từ Ban Tổ chức chương trình “Thư Đàm Cổ Nguyệt”.

Lưu ý: BTC có quyền loại bỏ các bài dự thi có lượng tương tác bất thường hoặc nghi ngờ là gian lận.

Thời gian diễn ra cuộc thi

  • Thời gian phát động cuộc thi: 09h00 ngày 14/07/2025
  • Thời gian nhận bài từ các thí sinh:
    • Vòng 1: Từ 09h00 ngày 14/07/2025 đến hết ngày 13/08/2025
    • Vòng 2: Từ 09h00 ngày 21/08/2025 đến hết ngày 06/09/2025
  • Thời gian bình chọn cho Vòng 1: Từ 09h00 ngày 13/07/2025 đến hết ngày 13/08/2025
  • Thời gian công bố kết quả:
    • Vòng 1: 21/08/2025
    • Vòng 2: 13/09/2025

Cách thức trao giải

Lễ Chung kết trao giải sẽ được tổ chức trực tiếp cho các thí sinh đạt giải thưởng chung cuộc của cuộc thi “Thư Đàm Cổ Nguyệt”. Tại sự kiện này, các thí sinh sẽ có cơ hội gặp gỡ và giao lưu trực tiếp với các vị trong Hội đồng Giám khảo uy tín của chương trình.

Cam kết từ Ban Tổ chức

Khi tham gia cuộc thi, thí sinh phải tuân thủ các quy định dưới đây:

  • Bản quyền bài dự thi thuộc về thí sinh. Thí sinh tự chịu trách nhiệm về quyền tác giả, các quyền liên quan theo quy định của pháp luật.
  • Ban Tổ chức có quyền sử dụng hình ảnh bài dự thi và hình ảnh thí sinh cho mục đích quảng bá chương trình mà không cần trả bất kỳ chi phí nào.
  • Trong mọi trường hợp phát sinh ngoài thể lệ, quyết định của Ban Tổ chức là quyết định cuối cùng.

BAN TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư “ly” kiêm thủ “hoán”,

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

Bản dịch:

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần. 

Qua bài thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình hòa quyện cùng nhịp sống lao động sôi động và những chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Mở đầu, bức tranh bến sông hiện lên đầy tĩnh lặng và nên thơ: “Gió im sóng lặng dạo bên sông / Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng”. Không gian khoáng đạt với gió êm sóng lặng tạo nên nền tảng hoàn hảo cho ánh nhìn quan sát. Từ điểm nhìn ấy, những chiếc thuyền chài hiện lên nối đuôi nhau giăng hàng trên mặt nước, tạo nên đường nét hài hòa, đậm chất hội họa, mở ra một khung cảnh yên ả và tràn đầy sức sống của vùng sông nước.

Sự chuyển động của con người thổi bùng lên sinh khí cho bức tranh bến đá: “Tay kiếm hang rồng sông mở lối / Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng”. Tuy chỉ là hoạt động đánh bắt cá, nhưng qua ngòi bút phóng khoáng của nữ sĩ, hành động ấy đã được nâng lên thành tầm vóc tráng lệ, hào hùng. Cùng với đó là nhịp sống thương mại đời thường tấp nập, ấm áp tình người: “Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối / Ông lái gõ chèo chén rượu nâng”. Tất cả đan cài uyển chuyển giữa những cảnh lao động dung dị, gần gũi của đời thường, khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ chiêm nghiệm sâu sắc: “Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán / Thánh nhân định vật, ý người trần”. Việc mượn các quẻ trong Kinh Dịch (quẻ Ly và quẻ Hoán) thể hiện sự thấu hiểu quy luật biến dịch khôn lường của tự nhiên và vũ trụ. Triết lý của thánh nhân trong việc mở mang vạn vật luôn hòa hợp với lòng người và nhịp sống tự nhiên. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự thấu triệt quy luật cuộc đời, tìm thấy sự an nhiên, thuận theo tự nhiên trong từng khoảnh khắc tồn tại.

“Thạch Phố Quan Ngư” là một hành trình thị giác và tâm hồn đưa người đọc hòa mình vào bức tranh thiên nhiên, đời sống và vũ trụ bao la. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc ngắm cảnh đánh cá bên bến đá và từ đó mở ra những tầng sâu triết lý về nhân sinh, nhắc nhở con người về sự hòa hợp giữa ta với đất trời, vũ trụ.

Thanh Ngân

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,
Phá kệ tàn bi yểm lục đài,
An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Bản dịch:

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh đá có duyên dời viên khác,
Chuông không giá móc vất bên đài,
Ngói tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư không một tối dựng lâu đài.

Bài thơ khắc họa sự hoang tàn, tiêu điều của chốn thiền môn qua lăng kính hoài cổ, đồng thời gửi gắm khát vọng hướng về sự tái thiết và những giá trị tâm linh vĩnh hằng.

Mở đầu, bức tranh chùa Khánh Minh hiện lên với vẻ vắng lặng, đìu hiu đến nao lòng: “Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại / Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy”. Không gian thiêng liêng xưa nay chìm trong phế tích, cỏ dại phủ lấp khắp nơi. Những vật dụng gắn liền với chốn tu hành giờ đây rơi vào cảnh lưu lạc, bơ vơ: “Khánh đá có duyên dời viên khác / Chuông không giá móc vất bên đài”. Sự tản mát của khánh, của chuông càng làm nổi bật sự trống trải, lạnh lẽo của một thời vang bóng nay đã chìm vào quên lãng.

Nỗi buồn hoài cổ thêm thấm đượm qua những hình ảnh chạm đến sự đổ nát tận cùng: “Ngói tan, xà mục chim làm tổ / Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi”. Mái ngói vỡ nát, xà nhà mục ruỗng giờ đây chỉ còn là chốn cho chim chóc lui tới làm tổ; bệ thờ, bia đá ngàn năm cũng bị lớp rêu phong vùi lấp. Cảnh tượng ấy gợi lên sự ngậm ngùi khôn nguôi trước quy luật vô thường của thời gian, khi những công trình vĩ đại hay chốn phật đường trang nghiêm cũng không thắng nổi sự bào mòn của thời gian.

Kết lại bài thơ, tác giả bất ngờ đẩy cảm xúc lên bằng một khát vọng lớn lao, đầy tính triết lý và mộng tưởng: “Giá được ngàn tay như Phật Tổ / Hư không một tối dựng lâu đài”. Giữa cõi điêu tàn, nhà thơ khao khát có được quyền năng của Phật nghìn mắt nghìn tay để xây dựng lại chốn thiền môn chỉ trong một đêm. Đó là mong ước phục dựng một ngôi chùa, còn là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, sự thiết tha gìn giữ những giá trị đạo đức, tâm linh cao đẹp trước sự tàn phá của thời gian.

“Bộ Khánh Minh Tự Cảm Hứng” là một khúc ca hoài cổ đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Bài thơ đưa người đọc chạm đến những khoảng lặng của tâm hồn, để từ đó thêm trân trọng những giá trị văn hóa, tâm linh và biết sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc của hiện tại.

Thanh Ngân

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Bản dịch:

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và đầy sức sống trên vùng sông nước Hoa Phong qua góc nhìn phóng khoáng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Mở đầu, hành trình qua vũng Hoa Phong hiện lên thật nhẹ nhàng, thư thái giữa không gian hoang sơ: “Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong / Đá dựng bờ son mọc giữa dòng”. Chiếc thuyền nhỏ với cánh buồm đơn sơ lướt đi thong thả giữa cảnh sắc vách đá dựng đứng và những bờ son vươn lên mạnh mẽ giữa dòng nước. Sự tương phản tinh tế giữa con người nhỏ bé và thiên nhiên đã mở ra một khung cảnh khoáng đạt, đầy ngoạn mục.

Cảnh quan tiếp tục vận động qua sự hòa quyện kỳ diệu giữa núi và nước, cùng nhịp sống của muôn loài: “Dòng nước lần theo chân núi chuyển / Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông”. Dòng nước uốn lượn uyển chuyển theo hình thế núi non, vô cùng nhịp nhàng. Nơi ấy, thiên nhiên còn tràn đầy sinh khí với “Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt / Âu lộ cùng bay bóng xế hồng”. Hơi thu mờ ảo hòa quyện cùng đàn chim âu trắng bay lượn dưới ánh nắng chiều đỏ rực, đã vẽ nên một bức tranh vừa huyền ảo, vừa ấm áp.

Kết lại bài thơ, Hồ Xuân Hương mở ra một không gian tưởng tượng huyền thoại đầy mê hoặc: “Băm sáu phòng mây cùng động ngọc / Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?”. Đứng trước vô số hang động kỳ vĩ và những phòng mây ẩn hiện, nữ sĩ ngỡ ngàng tự hỏi không biết đâu mới thực sự là cung điện Thủy Tinh lộng lẫy. Câu hỏi tu từ cuối bài là sự thán phục trước vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa, cũng bộc lộ tâm hồn bay bổng, lãng mạn của người lữ khách khi lạc bước vào cõi tiên.

“Độ Hoa Phong” như bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, đưa người đọc đắm chìm vào cõi thiên nhiên giao hòa, kỳ vĩ. Bài thơ ghi lại dấu ấn của một chuyến hành trình qua vùng sông nước và đánh thức tình yêu thiên nhiên, để lại dư âm bồi hồi mãi trong lòng người thưởng thức.

Thanh Ngân

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc bất ngõa từ giai bất thế,
Nham như tường bích thạch như diên,
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

Bản dịch:

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách như tường lát, đá như sườn.
Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,
Ong mật dâng hoa trước án hương.
Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên tĩnh mịch, hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh vật hoang sơ và tâm hồn thiền định thanh tịnh.

Mở đầu, không gian ngôi chùa cốc hiện lên đầy nguyên sơ, cổ kính và huyền bí: “Thần bào quỷ đẽo tự bao niên / Hình thể an bài sẵn tự nhiên”. Ngôi chùa ẩn mình trong hang đá, tựa như được bàn tay thần quỷ đẽo gọt qua muôn năm, mọi sự sắp đặt đều thuận theo tự nhiên, vượt lên trên dòng chảy của thời gian. Nét mộc mạc ấy càng được tô đậm qua hình ảnh kiến trúc đơn sơ: “Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát / Vách như tường lát, đá như sườn”. Không hề có dấu vết của nhân thế, tất cả đều hòa vào đất trời, mang lại cảm giác tĩnh tại, rũ bỏ hoàn toàn bụi trần.

Sự giao cảm kỳ diệu giữa vạn vật và chốn linh thiêng được mở rộng qua những hình ảnh sinh động, đầy tính triết lý thiền môn: “Đàn dơi cúng trái đài sen quý / Ong mật dâng hoa trước án hương”. Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, mang cả quả ngon, hoa thắm đến cúng dường trước án Phật. Chốn thiền môn lúc này không còn khoảng cách giữa con người và muông thú, giữa thực tại và cõi thiêng, tất cả đều chìm đắm trong sự hòa hợp, tôn nghiêm và thanh tịnh vô biên.

Kết lại bài thơ là khoảnh khắc thức tỉnh đầy vi diệu và sâu lắng: “Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót / Sư già chợt tỉnh giấc miên mang”. Những âm thanh của cuộc đời và thiên nhiên hòa quyện: tiếng sóng vỗ, tiếng ca của người tiều phu, tiếng chim chóc hót vang… đã đánh thức vị sư già khỏi giấc thiền định sâu thẳm. Tiếng động ấy là chất xúc tác đánh thức tâm thức, đưa con người trở về với thực tại minh triết, chạm đến cõi giác ngộ.

“Cốc Tự Tham Thiền” là hành trình đưa tâm hồn trở về với bản nguyên thanh tịnh nhất. Đứng trước không gian khoáng đạt và thâm trầm của chùa Cốc, con người như tìm thấy chốn bình yên sâu thẳm trong nội tâm, nơi mọi phiền muộn trôi đi, để lại sự an nhiên, trong từng nhịp sống.

Thanh Ngân

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi,
Thiên quân bảo khí minh lưu thuỷ,
Cửu cấp phù đồ hoá kiếp hôi,
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

Bản dịch:
Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn cân bảo khí reo bên nước,
Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Bài thơ khắc họa sự đối lập sâu sắc giữa hào quang quá khứ và sự tịch liêu của hiện tại.

Mở đầu, cảnh tượng hoang tàn hiện lên: “Cổ tháp di khư loạn thảo đôi / Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi”. Dấu tích của vị vua xưa nay trở thành đống đổ nát, cỏ dại bao phủ. Những giá trị từng được coi là vĩnh cửu như “Thiên quân bảo khí” hay “Cửu cấp phù đồ” giờ đây đều “hoá kiếp hôi”, trở về với cát bụi. Hình ảnh này khẳng định uy quyền và vật chất hữu hình hoàn toàn chịu khuất phục trước quy luật tự nhiên, chứng minh sự thịnh suy vốn là lẽ tất yếu của nhân thế.

Sự tương phản giữa tàn tích lịch sử và nhịp sống đời thường tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ: “Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng / Mục nhi khu độc há sơn ôi”. Trong khi di tích vĩ đại sụp đổ, người tiều phu vẫn thản nhiên tựa rìu ngủ trên đá, mục đồng vẫn xua đàn nghé xuống đồi. Cuộc sống đơn sơ, chân chất của con người đại diện cho sự vĩnh cửu. Họ chính là chủ nhân thực sự của ngọn núi, là hiện thân cho sự sống bất diệt, hồn nhiên và an nhiên giữa thiên nhiên tĩnh lặng.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ gửi gắm sự giác ngộ qua câu hỏi: “Đăng cao dục hội sơn tăng giảng / Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi”. Người thi sĩ tìm đến chốn chùa cao, mong cầu lời giảng đạo từ sơn tăng, nhưng chỉ nhận lại âm thanh tiếng chuông ngân vang. Đây chính là câu trả lời trọn vẹn nhất. Tiếng chuông chiều phá vỡ sự trầm mặc, xóa tan mọi thắc mắc về lẽ được mất. Chân lý hiện hữu trong âm thanh vang vọng, trong phút giây thực tại khi lòng người tĩnh lặng.

“Tháp Sơn Hoài Cổ” là hành trình người đọc tìm về cái gốc của tâm. Khi đứng trước sự đổ nát, con người nhận ra giá trị của sự bình yên. Bài thơ trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn rũ bỏ gánh nặng của thời gian, tìm về sự an nhiên giữa vòng quay sinh diệt. Mỗi âm thanh vang lên trong bài thơ đều là tiếng nói của sự thức tỉnh, mời gọi con người sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Thanh Ngân

Truyền văn Phật tích tại Linh San,
Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc tức thị không không thị sắc,
Thiền gia đương tác như thị quan.

Bản dịch:

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc tức thị không, không thị sắc
Thiền gia hiểu thế việc trần gian.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Phật Động Thâm U tựa như một nốt trầm sâu lắng, đưa người đọc rũ bỏ những ồn ào bụi bặm để bước vào hành trình tìm về cõi tịch liêu.

Mở đầu, nữ sĩ đưa ta vào không gian thiền vị bằng lời dẫn đầy tự nhiên: “Truyền văn Phật tích tại Linh San / Cận đắc sơn ông chỉ thử gian”. Nếu “truyền văn” gợi vẻ huyền thoại xa xôi, thì hình ảnh “sơn ông” chỉ lối lại kéo người đọc về với sự gần gũi của miền sơn cước. Người dẫn lối gắn bó cùng núi rừng, để bầu không khí trở nên chân thật. Ở đây, chân lý hiển hiện ngay khi con người tìm về tự nhiên nguyên thủy, lắng nghe sự chỉ dẫn từ những điều bình dị nhất.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục hiện lên qua hình ảnh “cửa động”, “đường cỏ dại” và “dấu rêu mòn”: “Động khẩu thiển thâm hoang thảo kính / Tự ngân nồng đậm ấn đài ban”. Những nét chữ xưa cũ chìm sâu dưới lớp rêu phong chính là hiện thân của tính vô thường. Thời gian khẳng định quyền năng vĩnh hằng khi xóa nhòa dấu tích hữu hình của thánh nhân, nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc của thiên nhiên. Sự phai nhạt của văn tự chính là lúc đạo hiển lộ, đưa lẽ thật của đời sống hòa quyện trọn vẹn vào cảnh vật.

Nhịp điệu bài thơ dần chậm lại, đi sâu vào sự chiêm nghiệm: “Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại / Cấp thủy biên khê tỉnh bất can”. Hình ảnh chiếc cầu soi bóng ngoài hồ và cái giếng bên khe nước là biểu tượng cho sự bất biến giữa dòng đời biến động. Dẫu vật đổi sao dời, dẫu đèn thả ngoài hồ tàn đi, sự thanh tịnh trong tâm thức vẫn vẹn nguyên, tràn đầy sức sống. Đó chính là sự tương thông giữa cái hữu hạn của ngoại cảnh và cái vô hạn của nội tâm: khi tâm an, thế giới xoay vần vẫn giữ được sự trong trẻo, tinh khôi của dòng suối trí tuệ đang luân chuyển trong mỗi người.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không thị sắc / Thiền gia đương tác như thị quan”. “Sắc” và “Không” lúc này trở thành hơi thở của vạn vật. Thiền gia tìm thấy Phật ngay trong sự chuyển hóa không ngừng của cái hữu hình và cái vô hình. Đó là thái độ sống thấu suốt sự đời hư ảo để đạt tới sự bình thản tuyệt đối. Khi buông bỏ sự bám víu vào “sắc” hay “không”, con người sẽ chạm đến cõi an nhiên, tự tại.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biến không gian hang động u tịch thành thánh đường tâm thức, nơi mọi vọng niệm được thanh tẩy bởi sự tĩnh lặng của Linh Sơn. Qua cái nhìn đầy tuệ giác, ta nhận ra Phật hiện hữu trong chính hơi thở nhẹ nhàng của cỏ cây, khe suối, và trong sự thức tỉnh của lòng người giữa cõi thế. Để mỗi cá nhân có thể tự tìm được cho riêng mình một “Phật động” thanh tịnh, nơi bản ngã an yên, hòa nhập vào vũ trụ bao la.

Thanh Ngân

Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739-1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Tổng biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 255 Thể loại: Truyện ký In

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 238 Thể loại: Tản văn In và

THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày mùa hoa văn chương đầu tiên của Nguyễn Thị Thiếu Anh lụi tàn. Cô nữ

Lịch sử không dành cho đôi vợ chồng trẻ quá nhiều thời gian bình yên. Chỉ vài năm sau, Cách mạng tháng Tám bùng nổ,

Trong màn họa thơ với chàng “Vô danh” ở phần trước, Nguyễn Thị Thiếu Anh từng kiêu hãnh tuyên bố: “Thiếu Anh”? Ta thiếu anh