(Ấn tượng về “Những đứa con của cây cầu Long Biên”, tản văn của Đông Di, Nxb Hội Nhà văn, 2022)

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
(Ca dao)

Ký ức lương thiện

Người yêu văn chương Việt Nam đã biết đến tiểu thuyết Những đứa con phố Arbat của nhà văn Nga tài danh Anatoli Rybakov N. Rưbacôp bị cấm ở Liên X-xô trước đây (tác giả hoàn thành kiệt tác này từ những năm 60 nhưng phải đến 1985, dưới thời “Cải tổ” mới được xuất bản). Đó là câu chuyện buồn “không muốn viết” về một thế hệ tuổi trẻ lớn lên trong nhọc nhằn và tù túng. Họ giống như hoa xương rồng trên sa mạc khô cằn nóng bỏng, vẫn cứ nở hoa. Vì thế, thời gian thụ giáo ở ngôi trường đại học danh tiếng Lômônôxốp (1987-1990), tại thủ đô Matxcơva, nơi tôi đến “thị sát” (thăm quan) đầu tiên là Hồng Trường, Lăng Lênin và phố Arbat (phố cổ và phố nghệ thuật). Dường như đó là một nghi lễ với người Việt Nam yêu mến đất nước của Lênin, tiếng Nga và văn chương Nga. Tôi ngẫm thấy, cư dân Matxcơva yêu con phố Arbat thế nào thì cư dân Hà Nội cũng yêu cây cầu Long Biên như thế và còn hơn thế (cây cầu tính đến nay đã trường thọ… 121 tuổi).

Trong sở đọc của mình, tôi riêng thích những áng văn lấp lánh vẻ đẹp hiếm có của chốn kinh kỳ như Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam, Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài. Nay có thể ghi thêm vào danh sách này Những đứa con của cây cầu Long Biên của Đông Di. Tác giả có cái may mắn hơn người khi sách của mình không bị “om”, nó cứ thế đến nhanh, đến thẳng với người đọc hôm nay vốn rất thông minh, song đôi khi cũng rất đỏng đảnh, khó chiều.

Trong quy hoạch tầm nhìn dài hạn, đến năm 2050, sẽ có 18 cây cầu vượt sông Hồng (theo Vietnamnet) để góp vào kiến tạo Hà Nội – Thành phố hai bờ sông (kiểu như Matxcơva của nước Nga, hay Paris của nước Pháp…). Đó là tương lai hiện thực. Rồi sẽ có những cây cầu vượt sông Hồng hiện đại hơn ngang tầm khu vực, tôn dáng Thủ đô nghìn năm văn vật. Nhưng trong ký ức của nhiều thế hệ cư dân Hà Nội (rộng ra là tất cả những người Việt Nam yêu Thủ đô), cây cầu Long Biên, tôi nghĩ, chỉ duy nhất trở thành ký ức lương thiện như một nhân chứng của thời gian – không gian – văn hóa – nhân tâm.

Vào cuối những năm 50 của thế kỷ tước, khi mới cắp sách đến trường để khai tâm, khai trí tôi đã được học bài thơ về cầu Long Biên. Đến tận bây giờ ngoài bảy mươi, tóc đã pha sương, nhưng vẫn còn ngân nga trong lòng những câu thơ giản dị, thắm thiết: “Hà Nội có cầu Long Biên/ Vừa dài vừa rộng bắc qua sông Hồng/ Tàu xe qua lại thong dong/ Bộ hành tấp nập gánh gồng ngược xuôi …”. Ngày ấy, tôi còn ở tận Hà Tĩnh xa xôi miền gió Lào cát trắng, cứ mơ ước có lúc ra Thủ đô, đứng trên cầu Long Biên. Hôm nay, trong tâm khảm tôi Thủ đô là một phần máu thịt của đời mình (dẫu là dân “ngụ cư” 55 năm nay).

Viết bằng trải nghiệm sống và trải nghiệm văn hóa

Mới đây, tôi được tặng bộ sách đẹp (2 tập) Hà thành hương xưa vị cũ, Đặc sản bốn phương hội tụ (tạp bút) của tác giả Vũ Thị Tuyết Nhung (nguyên Trưởng ban Biên tập Văn hóa – Xã hội, Đài Phát thanh – Truyền hìnhT-TH Hà Nội). Đây là một bộ sưu tập (colletion) văn hóa của một người gốc Hà Nội.

Văn hóa ẩm thực Thăng Long – Hà Nội là đề tài vô tận. Tác giả bài báo nhỏ này cùng đồng nghiệp (PGS.TS Phạm Quang Long, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội) đã xuất bản tập sách khảo cứu công phu Tuyển tập tác phẩm về văn hóa ẩm thực Thăng Long – Hà Nội (Nxb Hà Nội, 2010). Vậy là bộ sưu tập về “văn hóa ẩm thực” kinh kỳ, về cơ bản, có thể nói đầy đặn. Nhưng một bộ sưu tập về “cây cầu Long Biên”, thì có thể nói không quá, Đông Di với tập tản văn Những đứa con của cây cầu Long Biên, là người vỡ vạc, mở đường và thành công ngoạn mục.

Đọc Những đứa con của cây cầu Long Biên, ngay đối với những cư dân Hà Nội, nếu lâu nay chỉ sống theo tinh thần hiện sinh (không màng đến quá khứ hay tương lai), hoặc mải mưu sinh, hoặc thờ ơ với đời với người, thì cũng chẳng còn đâu thời gian và tâm tưởng để suy ngẫm về những Bến Nứa trong truyền thuyết, Hà Nội thời xa vắng, Dưới chân cầu Long Biên, Bên kia cầu Long Biên… (nhan đề những “tiểu truyện”, tôi tạm đặt như thế), vừa có chiều sâu nội tâm vừa khai mở hướng ngoại.

Câu nói “Sống đã rồi hãy viết” được coi như một phương châm hành động của người cầm bút, ít nhất đúng với trường hợp tác giả Đông Di trong quá trình hoàn thành tác phẩm (tôi đồ rằng là đầu tay, như mối tình đầu vậy). Nhưng trải nghiệm sống mới chỉ là một nửa, một nửa khác đảm bảo thành công sáng tác là trải nghiệm văn hóa. Tôi nghĩ, phẩm chất sau quyết định tính chất “có trọng tải” (tư tưởng) của văn chương nói chung, rọi vào Những đứa con của cây cầu Long Biên, nói riêng.

Lối viết của Đông Di đánh động tâm cảm người đọc: “Nói đến cầu Long Biên mà không nói đến Bến Nứa, tôi nghĩ là, Bến Nứa sẽ rất tủi thân vì Bến Nứa được hình thành bên bờ sông Hồng đã từ rất lâu trước khi người ta du nhập cầu Long Biên từ bên Pháp quốc về đặt tại đây”. Đó là lối viết đong đầy thông tin thẩm mỹ và thặng dư chữ nghĩa.

Rõ ràng viết theo lối hồi cố, hoài niệm nhưng không sa vào “ôn nghèo kể khổ”, mà là “ôn cố tri tân”. Tôi chú ý đến những dòng kết tác phẩm: “Tôi không muốn quay về thế kỷ trước. Tôi muốn đi tới tương lai hoặc ít nhất là được suy nghĩ và tưởng tượng về tương lai của Hà Nội, của những người con Hà Nội, của người Việt nói chung. Một trăm năm nữa thì Hà Nội sẽ thay đổi như thế nào? Một trăm năm nữa thì Việt Nam sẽ phát triển ra sao?”.

Tột cùng văn hóa là con người

Những đứa con của cây cầu Long Biên là câu chuyện văn hóa dưới hình thức tản văn (hay tùy văn). Chúng ta thường nói đến văn hóa như một phạm trù/ khái niệm vĩ mô. Tất nhiên. Nhưng không nhiều người thực hành nguyên tắc sau làm căn đế “Văn hóa là cách sống cùng nhau”. Chân lý, cái đẹp bao giờ cũng giản dị. Không ít người trong chúng ta đang mắc vào bệnh triết lý vặt do ảnh hưởng của mạng xã hội (cứ thấy bắt mắt là “đao” – downloads – về những “lời hay ý đẹp”, rồi coi như mình phát minh ra). Nhân vật xưng “Tôi” trong tác phẩm đứng ra kể chuyện mình theo một cách, tạm gọi là, “thi pháp chân thành”.

Bắt đầu từ cuộc gặp gỡ với một người đàn ông ngoại quốc có hỗn danh TÂY ĐỘC (do nhân vật “Tôi” đặt tên). Rồi duyên số se họ lại với nhau, cùng tay trong tay đi xuyên không gian – thời gian, với mục tiêu “Hội nhập văn hóa”. Xu hướng (trend) nỗ lực trở thành “Công dân toàn cầu” thể hiện rất rõ trong nhân vật “Tôi” – một cá thể đầy trí lự, bản lĩnh, nhạy cảm nhưng không thiếu đảm lược, quảng giao, tinh tế, bặt thiệp được xem là những phẩm tính tối cần thiết cho một nữ nhi thường tình.

Và đặc biệt hơn, quý hơn ở chỗ cá thể ấy thoát ra được khỏi tâm lý và hành xử theo lối “bầy đàn” (đám đông dễ a dua). Không riêng tôi yêu mến nhân vật “Tôi” của Đông Di (như bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, đã viết: “Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”), đó là mẫu người thời đại của thế giới phẳng, toàn cầu hóa, hội nhập và tiếp biến văn hóa để biết ngoài trời còn có trời, đi một ngày đàng học một sàng khôn, biết người biết ta trăm trận trăm thắng.

Đông Di thuộc thế hệ can trường, vượt lên từ gian khổ, vinh quang và cay đắng bên ít bên nhiều. Họ là “Những đứa con của cây cầu Long Biên đã xâm nhập vào trong nội địa Mỹ”.

Tôi nghĩ, không chỉ có nước Mỹ mà còn nhiều quốc gia khác trên hành tinh này, nơi bàn chân người Việt Nam in dấu, trong đó hiện diện những cư dân Hà Nội – những đứa con của cây cầu Long Biên. Tôi lại càng chăm chú hơn dõi theo bước đường đời của nhân vật “Tôi”, luôn sống trong “thời gian hai chiều” và “không gian mở”. Nhân vật này như thể đã hiển hiện qua màn sương khói bảng lảng của ca từ mượt mà, đắm say: “Dù có đi bốn phương trời /Lòng vẫn nhớ về Hà Nội” trong nhạc phẩm nổi tiếng Nhớ về Hà Nội của nhạc sĩỹ Hoàng Hiệp.

Đọc Những đứa con của cây cầu Long Biên của Đông Di, thấy có nhiều con người thuộc nhiều sắc tộc, thể chế chính trị, bản sắc văn hóa, trình độ học vấn, tiềm lực kinh tế, căn tính rất khác nhau trong những bối cảnh khác nhau. Nhưng không con người nào ấn tượng trong lòng độc giả bằng NGƯỜI MẸ. Văn hào Nga hiện đại M. Gorki đã viết: “Không có Người Mẹ, không có mặt trời, không có thi ca, không có người anh hùng”.

Rất rõ, Đông Di viết Những đứa con của cây cầu Long Biên nhằm vào người đọc trẻ, vì: “Cầu Long Biên hiện hữu trong ký ức của tôi, của nhiều người trong thế hệ chúng tôi thì cũng sẽ hiện hữu trong ký ức của nhiều người, của các thế hệ đi sau”. Nhưng động lực chính của sự viết, theo tôi, sâu xa hơn, cũng vì: “Trong vốn tri thức của tôi có vài bài thơ Đường cổ cũng đều là từ mẹ dạy và giảng nghĩa

Những câu chuyện mẹ kể, những điều mẹ răn dạy trong suốt những năm tháng thơ ấu cho đến khi trưởng thành đã giúp tôi có được niềm tin vào sự minh triết trong nền văn minh phương Đông, trước khi tôi tiếp nhận ánh ánh sáng của nền văn minh phương Tây”. Để rồi cuối cùng: “Trong thời gian tôi biên tập cuốn sách này cũng là lúc mẹ tôi rời xa chúng tôi. Thật không thể tin được, khi chỉ trước đó có vài hôm, tôi còn ngồi đọc từng đoạn, từng đoạn văn trong cuốn sách này cho mẹ tôi nghe, bà còn cười và bình luận khi nghe tôi đọc tới những câu tâm huyết từ đáy lòng” (Thay cho lời kết). Trước nữa, trong Lời tác giả (in đầu sách), Đông Di thẳng băng viết: “Có điều gì nhầm lẫn trong tử vi?/ Mẹ dạy tam tòng/ Em thích vô vi”.

Vĩ thanh

Đọc Những đứa con của cây cầu Long Biên sẽ thấy Đông Di không bài nội, cũng chẳng hề vọng ngoại, theo cách của các chính trị gia trong đối thoại quốc tế hiện nay thường nói: “Không chọn phe, chọn lẽ phải và chính nghĩa”. Thiết nghĩ, viết giới thiệu Những đứa con của cây cầu Long Biên của Đông Di, tôi không làm việc “toát yếu” nội dung tác phẩm. Không có gì thay thế được việc đọc trực tiếp một cuốn sách hay với những người vẫn còn yêu và chung thủy với văn chương trong bối cảnh văn hóa nghe nhìn đang trương nở, lên ngôi. Tôi muốn nhấn mạnh đến cái tâm và tầm của người viết văn, cuối cùng để dâng tặng người đọc một khoái cảm thẩm mỹ, gây men một nhã thú văn chương đang dần trở nên hiếm hoi trong không gian mạng và thế giới số như một tất yếu thời đại khó cưỡng lại. Nhưng nghệ thuật ngôn từ đích thực có thiên chức chống lại sự lãng quên con người./.

Bùi Việt Thắng

(Nguồn: https://arttimes.vn/van-tho/di-vang-phia-truoc-c55a29608.html)

 

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư “ly” kiêm thủ “hoán”,

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

Bản dịch:

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần. 

Qua bài thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình hòa quyện cùng nhịp sống lao động sôi động và những chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Mở đầu, bức tranh bến sông hiện lên đầy tĩnh lặng và nên thơ: “Gió im sóng lặng dạo bên sông / Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng”. Không gian khoáng đạt với gió êm sóng lặng tạo nên nền tảng hoàn hảo cho ánh nhìn quan sát. Từ điểm nhìn ấy, những chiếc thuyền chài hiện lên nối đuôi nhau giăng hàng trên mặt nước, tạo nên đường nét hài hòa, đậm chất hội họa, mở ra một khung cảnh yên ả và tràn đầy sức sống của vùng sông nước.

Sự chuyển động của con người thổi bùng lên sinh khí cho bức tranh bến đá: “Tay kiếm hang rồng sông mở lối / Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng”. Tuy chỉ là hoạt động đánh bắt cá, nhưng qua ngòi bút phóng khoáng của nữ sĩ, hành động ấy đã được nâng lên thành tầm vóc tráng lệ, hào hùng. Cùng với đó là nhịp sống thương mại đời thường tấp nập, ấm áp tình người: “Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối / Ông lái gõ chèo chén rượu nâng”. Tất cả đan cài uyển chuyển giữa những cảnh lao động dung dị, gần gũi của đời thường, khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ chiêm nghiệm sâu sắc: “Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán / Thánh nhân định vật, ý người trần”. Việc mượn các quẻ trong Kinh Dịch (quẻ Ly và quẻ Hoán) thể hiện sự thấu hiểu quy luật biến dịch khôn lường của tự nhiên và vũ trụ. Triết lý của thánh nhân trong việc mở mang vạn vật luôn hòa hợp với lòng người và nhịp sống tự nhiên. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự thấu triệt quy luật cuộc đời, tìm thấy sự an nhiên, thuận theo tự nhiên trong từng khoảnh khắc tồn tại.

“Thạch Phố Quan Ngư” là một hành trình thị giác và tâm hồn đưa người đọc hòa mình vào bức tranh thiên nhiên, đời sống và vũ trụ bao la. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc ngắm cảnh đánh cá bên bến đá và từ đó mở ra những tầng sâu triết lý về nhân sinh, nhắc nhở con người về sự hòa hợp giữa ta với đất trời, vũ trụ.

Thanh Ngân

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,
Phá kệ tàn bi yểm lục đài,
An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Bản dịch:

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh đá có duyên dời viên khác,
Chuông không giá móc vất bên đài,
Ngói tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư không một tối dựng lâu đài.

Bài thơ khắc họa sự hoang tàn, tiêu điều của chốn thiền môn qua lăng kính hoài cổ, đồng thời gửi gắm khát vọng hướng về sự tái thiết và những giá trị tâm linh vĩnh hằng.

Mở đầu, bức tranh chùa Khánh Minh hiện lên với vẻ vắng lặng, đìu hiu đến nao lòng: “Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại / Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy”. Không gian thiêng liêng xưa nay chìm trong phế tích, cỏ dại phủ lấp khắp nơi. Những vật dụng gắn liền với chốn tu hành giờ đây rơi vào cảnh lưu lạc, bơ vơ: “Khánh đá có duyên dời viên khác / Chuông không giá móc vất bên đài”. Sự tản mát của khánh, của chuông càng làm nổi bật sự trống trải, lạnh lẽo của một thời vang bóng nay đã chìm vào quên lãng.

Nỗi buồn hoài cổ thêm thấm đượm qua những hình ảnh chạm đến sự đổ nát tận cùng: “Ngói tan, xà mục chim làm tổ / Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi”. Mái ngói vỡ nát, xà nhà mục ruỗng giờ đây chỉ còn là chốn cho chim chóc lui tới làm tổ; bệ thờ, bia đá ngàn năm cũng bị lớp rêu phong vùi lấp. Cảnh tượng ấy gợi lên sự ngậm ngùi khôn nguôi trước quy luật vô thường của thời gian, khi những công trình vĩ đại hay chốn phật đường trang nghiêm cũng không thắng nổi sự bào mòn của thời gian.

Kết lại bài thơ, tác giả bất ngờ đẩy cảm xúc lên bằng một khát vọng lớn lao, đầy tính triết lý và mộng tưởng: “Giá được ngàn tay như Phật Tổ / Hư không một tối dựng lâu đài”. Giữa cõi điêu tàn, nhà thơ khao khát có được quyền năng của Phật nghìn mắt nghìn tay để xây dựng lại chốn thiền môn chỉ trong một đêm. Đó là mong ước phục dựng một ngôi chùa, còn là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, sự thiết tha gìn giữ những giá trị đạo đức, tâm linh cao đẹp trước sự tàn phá của thời gian.

“Bộ Khánh Minh Tự Cảm Hứng” là một khúc ca hoài cổ đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Bài thơ đưa người đọc chạm đến những khoảng lặng của tâm hồn, để từ đó thêm trân trọng những giá trị văn hóa, tâm linh và biết sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc của hiện tại.

Thanh Ngân

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Bản dịch:

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và đầy sức sống trên vùng sông nước Hoa Phong qua góc nhìn phóng khoáng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Mở đầu, hành trình qua vũng Hoa Phong hiện lên thật nhẹ nhàng, thư thái giữa không gian hoang sơ: “Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong / Đá dựng bờ son mọc giữa dòng”. Chiếc thuyền nhỏ với cánh buồm đơn sơ lướt đi thong thả giữa cảnh sắc vách đá dựng đứng và những bờ son vươn lên mạnh mẽ giữa dòng nước. Sự tương phản tinh tế giữa con người nhỏ bé và thiên nhiên đã mở ra một khung cảnh khoáng đạt, đầy ngoạn mục.

Cảnh quan tiếp tục vận động qua sự hòa quyện kỳ diệu giữa núi và nước, cùng nhịp sống của muôn loài: “Dòng nước lần theo chân núi chuyển / Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông”. Dòng nước uốn lượn uyển chuyển theo hình thế núi non, vô cùng nhịp nhàng. Nơi ấy, thiên nhiên còn tràn đầy sinh khí với “Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt / Âu lộ cùng bay bóng xế hồng”. Hơi thu mờ ảo hòa quyện cùng đàn chim âu trắng bay lượn dưới ánh nắng chiều đỏ rực, đã vẽ nên một bức tranh vừa huyền ảo, vừa ấm áp.

Kết lại bài thơ, Hồ Xuân Hương mở ra một không gian tưởng tượng huyền thoại đầy mê hoặc: “Băm sáu phòng mây cùng động ngọc / Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?”. Đứng trước vô số hang động kỳ vĩ và những phòng mây ẩn hiện, nữ sĩ ngỡ ngàng tự hỏi không biết đâu mới thực sự là cung điện Thủy Tinh lộng lẫy. Câu hỏi tu từ cuối bài là sự thán phục trước vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa, cũng bộc lộ tâm hồn bay bổng, lãng mạn của người lữ khách khi lạc bước vào cõi tiên.

“Độ Hoa Phong” như bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, đưa người đọc đắm chìm vào cõi thiên nhiên giao hòa, kỳ vĩ. Bài thơ ghi lại dấu ấn của một chuyến hành trình qua vùng sông nước và đánh thức tình yêu thiên nhiên, để lại dư âm bồi hồi mãi trong lòng người thưởng thức.

Thanh Ngân

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc bất ngõa từ giai bất thế,
Nham như tường bích thạch như diên,
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

Bản dịch:

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách như tường lát, đá như sườn.
Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,
Ong mật dâng hoa trước án hương.
Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên tĩnh mịch, hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh vật hoang sơ và tâm hồn thiền định thanh tịnh.

Mở đầu, không gian ngôi chùa cốc hiện lên đầy nguyên sơ, cổ kính và huyền bí: “Thần bào quỷ đẽo tự bao niên / Hình thể an bài sẵn tự nhiên”. Ngôi chùa ẩn mình trong hang đá, tựa như được bàn tay thần quỷ đẽo gọt qua muôn năm, mọi sự sắp đặt đều thuận theo tự nhiên, vượt lên trên dòng chảy của thời gian. Nét mộc mạc ấy càng được tô đậm qua hình ảnh kiến trúc đơn sơ: “Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát / Vách như tường lát, đá như sườn”. Không hề có dấu vết của nhân thế, tất cả đều hòa vào đất trời, mang lại cảm giác tĩnh tại, rũ bỏ hoàn toàn bụi trần.

Sự giao cảm kỳ diệu giữa vạn vật và chốn linh thiêng được mở rộng qua những hình ảnh sinh động, đầy tính triết lý thiền môn: “Đàn dơi cúng trái đài sen quý / Ong mật dâng hoa trước án hương”. Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, mang cả quả ngon, hoa thắm đến cúng dường trước án Phật. Chốn thiền môn lúc này không còn khoảng cách giữa con người và muông thú, giữa thực tại và cõi thiêng, tất cả đều chìm đắm trong sự hòa hợp, tôn nghiêm và thanh tịnh vô biên.

Kết lại bài thơ là khoảnh khắc thức tỉnh đầy vi diệu và sâu lắng: “Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót / Sư già chợt tỉnh giấc miên mang”. Những âm thanh của cuộc đời và thiên nhiên hòa quyện: tiếng sóng vỗ, tiếng ca của người tiều phu, tiếng chim chóc hót vang… đã đánh thức vị sư già khỏi giấc thiền định sâu thẳm. Tiếng động ấy là chất xúc tác đánh thức tâm thức, đưa con người trở về với thực tại minh triết, chạm đến cõi giác ngộ.

“Cốc Tự Tham Thiền” là hành trình đưa tâm hồn trở về với bản nguyên thanh tịnh nhất. Đứng trước không gian khoáng đạt và thâm trầm của chùa Cốc, con người như tìm thấy chốn bình yên sâu thẳm trong nội tâm, nơi mọi phiền muộn trôi đi, để lại sự an nhiên, trong từng nhịp sống.

Thanh Ngân

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi,
Thiên quân bảo khí minh lưu thuỷ,
Cửu cấp phù đồ hoá kiếp hôi,
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

Bản dịch:
Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn cân bảo khí reo bên nước,
Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Bài thơ khắc họa sự đối lập sâu sắc giữa hào quang quá khứ và sự tịch liêu của hiện tại.

Mở đầu, cảnh tượng hoang tàn hiện lên: “Cổ tháp di khư loạn thảo đôi / Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi”. Dấu tích của vị vua xưa nay trở thành đống đổ nát, cỏ dại bao phủ. Những giá trị từng được coi là vĩnh cửu như “Thiên quân bảo khí” hay “Cửu cấp phù đồ” giờ đây đều “hoá kiếp hôi”, trở về với cát bụi. Hình ảnh này khẳng định uy quyền và vật chất hữu hình hoàn toàn chịu khuất phục trước quy luật tự nhiên, chứng minh sự thịnh suy vốn là lẽ tất yếu của nhân thế.

Sự tương phản giữa tàn tích lịch sử và nhịp sống đời thường tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ: “Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng / Mục nhi khu độc há sơn ôi”. Trong khi di tích vĩ đại sụp đổ, người tiều phu vẫn thản nhiên tựa rìu ngủ trên đá, mục đồng vẫn xua đàn nghé xuống đồi. Cuộc sống đơn sơ, chân chất của con người đại diện cho sự vĩnh cửu. Họ chính là chủ nhân thực sự của ngọn núi, là hiện thân cho sự sống bất diệt, hồn nhiên và an nhiên giữa thiên nhiên tĩnh lặng.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ gửi gắm sự giác ngộ qua câu hỏi: “Đăng cao dục hội sơn tăng giảng / Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi”. Người thi sĩ tìm đến chốn chùa cao, mong cầu lời giảng đạo từ sơn tăng, nhưng chỉ nhận lại âm thanh tiếng chuông ngân vang. Đây chính là câu trả lời trọn vẹn nhất. Tiếng chuông chiều phá vỡ sự trầm mặc, xóa tan mọi thắc mắc về lẽ được mất. Chân lý hiện hữu trong âm thanh vang vọng, trong phút giây thực tại khi lòng người tĩnh lặng.

“Tháp Sơn Hoài Cổ” là hành trình người đọc tìm về cái gốc của tâm. Khi đứng trước sự đổ nát, con người nhận ra giá trị của sự bình yên. Bài thơ trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn rũ bỏ gánh nặng của thời gian, tìm về sự an nhiên giữa vòng quay sinh diệt. Mỗi âm thanh vang lên trong bài thơ đều là tiếng nói của sự thức tỉnh, mời gọi con người sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Thanh Ngân

Truyền văn Phật tích tại Linh San,
Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc tức thị không không thị sắc,
Thiền gia đương tác như thị quan.

Bản dịch:

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc tức thị không, không thị sắc
Thiền gia hiểu thế việc trần gian.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Phật Động Thâm U tựa như một nốt trầm sâu lắng, đưa người đọc rũ bỏ những ồn ào bụi bặm để bước vào hành trình tìm về cõi tịch liêu.

Mở đầu, nữ sĩ đưa ta vào không gian thiền vị bằng lời dẫn đầy tự nhiên: “Truyền văn Phật tích tại Linh San / Cận đắc sơn ông chỉ thử gian”. Nếu “truyền văn” gợi vẻ huyền thoại xa xôi, thì hình ảnh “sơn ông” chỉ lối lại kéo người đọc về với sự gần gũi của miền sơn cước. Người dẫn lối gắn bó cùng núi rừng, để bầu không khí trở nên chân thật. Ở đây, chân lý hiển hiện ngay khi con người tìm về tự nhiên nguyên thủy, lắng nghe sự chỉ dẫn từ những điều bình dị nhất.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục hiện lên qua hình ảnh “cửa động”, “đường cỏ dại” và “dấu rêu mòn”: “Động khẩu thiển thâm hoang thảo kính / Tự ngân nồng đậm ấn đài ban”. Những nét chữ xưa cũ chìm sâu dưới lớp rêu phong chính là hiện thân của tính vô thường. Thời gian khẳng định quyền năng vĩnh hằng khi xóa nhòa dấu tích hữu hình của thánh nhân, nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc của thiên nhiên. Sự phai nhạt của văn tự chính là lúc đạo hiển lộ, đưa lẽ thật của đời sống hòa quyện trọn vẹn vào cảnh vật.

Nhịp điệu bài thơ dần chậm lại, đi sâu vào sự chiêm nghiệm: “Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại / Cấp thủy biên khê tỉnh bất can”. Hình ảnh chiếc cầu soi bóng ngoài hồ và cái giếng bên khe nước là biểu tượng cho sự bất biến giữa dòng đời biến động. Dẫu vật đổi sao dời, dẫu đèn thả ngoài hồ tàn đi, sự thanh tịnh trong tâm thức vẫn vẹn nguyên, tràn đầy sức sống. Đó chính là sự tương thông giữa cái hữu hạn của ngoại cảnh và cái vô hạn của nội tâm: khi tâm an, thế giới xoay vần vẫn giữ được sự trong trẻo, tinh khôi của dòng suối trí tuệ đang luân chuyển trong mỗi người.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không thị sắc / Thiền gia đương tác như thị quan”. “Sắc” và “Không” lúc này trở thành hơi thở của vạn vật. Thiền gia tìm thấy Phật ngay trong sự chuyển hóa không ngừng của cái hữu hình và cái vô hình. Đó là thái độ sống thấu suốt sự đời hư ảo để đạt tới sự bình thản tuyệt đối. Khi buông bỏ sự bám víu vào “sắc” hay “không”, con người sẽ chạm đến cõi an nhiên, tự tại.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biến không gian hang động u tịch thành thánh đường tâm thức, nơi mọi vọng niệm được thanh tẩy bởi sự tĩnh lặng của Linh Sơn. Qua cái nhìn đầy tuệ giác, ta nhận ra Phật hiện hữu trong chính hơi thở nhẹ nhàng của cỏ cây, khe suối, và trong sự thức tỉnh của lòng người giữa cõi thế. Để mỗi cá nhân có thể tự tìm được cho riêng mình một “Phật động” thanh tịnh, nơi bản ngã an yên, hòa nhập vào vũ trụ bao la.

Thanh Ngân

Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739-1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Tổng biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 255 Thể loại: Truyện ký In

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 238 Thể loại: Tản văn In và

THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày mùa hoa văn chương đầu tiên của Nguyễn Thị Thiếu Anh lụi tàn. Cô nữ

Lịch sử không dành cho đôi vợ chồng trẻ quá nhiều thời gian bình yên. Chỉ vài năm sau, Cách mạng tháng Tám bùng nổ,

Trong màn họa thơ với chàng “Vô danh” ở phần trước, Nguyễn Thị Thiếu Anh từng kiêu hãnh tuyên bố: “Thiếu Anh”? Ta thiếu anh