Trong đời sống văn học, bút danh thường được xem như một lớp áo. Có người chọn để ẩn mình. Có người chọn để làm mới mình. Bút danh vì thế cũng muôn hình vạn trạng. Bóng bẩy và thơ mộng thì có Hàn Mặc Tử, Song Khê, Bích Khê… Mang đầy dấu ấn sử – địa thì rực sáng lên những Tản Đà, Chế Lan Viên… Người “ghê gớm hơn” thì chơi chữ, khiến người đời bán tín bán nghi như Hồ Dzếnh, J.Leiba, T.T.Kh… Người đơn giản chỉ cần một cái tên dễ nhớ, thành ra lấy luôn tên thật của mình như Nguyễn Vỹ, Xuân Diệu…

Nhưng cũng có những bút danh được chọn để giữ lại một người đã mất.

Dương Hương Ly là một cái tên như thế.

Đằng sau bút danh ấy là một câu chuyện rất đau về chiến tranh, tình yêu, người vợ đã nằm lại giữa chiến trường và đứa con thơ phải lớn lên trong một ký ức thiếu tình thương của mẹ.

***

Bùi Minh Quốc tạo bút danh Dương Hương Ly một cách đầy chủ ý.

“Dương” là họ của người vợ ông: nữ nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý.

“Ly” là tên người con gái đầu lòng.

Một cái tên ghép lại từ hai phần thân thiết nhất trong đời người: người vợ và đứa con. Nhưng chính sự ghép nối tưởng như trọn vẹn ấy lại gợi ra một nỗi đau rất sâu. Bởi trong thực tế, chiến tranh đã chia cắt cả ba người: người cha ở chiến trường, người mẹ vào Nam rồi hy sinh, còn đứa con gái nhỏ phải ở lại hậu phương khi mới vừa thôi nôi.

Cái tên Dương Hương Ly vì thế như một cách Bùi Minh Quốc mang theo gia đình mình trong từng dòng thơ, từng trang viết, từng lần ký tên.

***

Năm 1968, Dương Thị Xuân Quý đưa ra một quyết định rất khó khăn: gửi lại con gái đầu lòng cho mẹ Hoàng Thị Tín chăm sóc để tình nguyện vào chiến trường miền Nam. Chị khi ấy là phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam, còn rất trẻ, đã có chồng, con, một đời sống riêng. Nhưng giữa thời chiến, chị chọn con đường khác: đi vào nơi ác liệt nhất mà chồng chị là nhà thơ Bùi Minh Quốc đã vào trước đó một năm.

Trong hồ sơ cán bộ chiến sĩ đi B tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III còn lưu lại lá đơn tình nguyện của chị. Những dòng chữ ấy đọc lên đến hôm nay vẫn khiến người ta lặng đi vì ý chí sắt đá:

“Tôi là Dương Thị Xuân Quý, đoàn viên thanh niên lao động, phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam tình nguyện gửi đơn này xin các đồng chí xét cho tôi được vào Nam chiến đấu. Tôi năm nay 24 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh, đã mười năm nay không ốm đau, không có bệnh tật gì. Nếu được vào Nam chiến đấu, tôi có thể dạy học, làm công tác Đoàn, làm báo, phụ trách thiếu nhi… Nhưng nếu miền Nam cần đến tôi ở bất cứ một việc nào, bất cứ một nơi nào, tôi xin sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ. Nếu phải hy sinh tính mạng, tôi sẵn sàng, không một mảy may tính toán…”.

Tháng 4/1968, Dương Thị Xuân Quý vượt Trường Sơn vào chiến trường Khu V. Từ đây, cuộc đời chị bước hẳn vào một nhịp khác: hành quân, bom đạn, sốt rét, những trận càn, những chuyến đi thực tế, những trang viết giữa thiếu thốn và hiểm nguy.

***

Bùi Minh Quốc và Dương Thị Xuân Quý là vợ chồng, nhưng trong chiến tranh, họ không được sống như một gia đình bình thường. Họ gặp nhau giữa các điểm nóng của chiến trường Khu V, lần nào cũng vội. Gặp rồi lại chia xa. Có khi chưa kịp hỏi han, nói hết mấy câu riêng tư, mỗi người đã phải đi theo một nhiệm vụ khác.

Chính trong một khoảnh khắc hiếm hoi như thế, Dương Thị Xuân Quý từng hỏi chồng: 

“Sao anh làm thơ tình tặng nhiều người mà chưa có bài nào tặng cho em?”

Câu hỏi ấy nghe như một lời trách yêu rất đỗi bình thường của người vợ. Nhưng đặt giữa chiến trường, nó bỗng trở nên nghẹn ngào.

Một người phụ nữ đã gửi con nhỏ lại hậu phương, đi qua Trường Sơn, sống giữa bom đạn, vậy mà trong sâu thẳm vẫn chỉ mong được chồng viết riêng cho mình một bài thơ tình. Chiến tranh có thể đẩy con người vào những lựa chọn lớn lao, nhưng nó nào có thể ngăn cản được những mong muốn rất nhỏ: được yêu, được nhớ, được gọi tên như một người duy nhất. Bùi Minh Quốc đã định trả lời vợ bằng thơ:

“Cuộc đời vẫn đẹp sao

Tình yêu vẫn đẹp sao

Dù đạn bom man rợ thét gào…

Dù xa cách hai ngả đường chiến dịch

Ta vẫn còn chung nhau một ánh trăng ngần…”.

Nhưng bài thơ tình ấy chưa kịp đi hết số phận êm đềm của nó. 

***

Đêm 8 rạng ngày 9/3/1969, trong một trận càn của lính Hàn Quốc tham chiến cùng quân đội Mỹ tại thôn Thi Thại, xã Xuyên Tân, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam cũ, Dương Thị Xuân Quý hy sinh khi mới 28 tuổi. Mất mát ấy một khoảng trống mênh mông trong phần đời người ở lại. Từ nỗi đau ấy, Bùi Minh Quốc viết “Bài thơ về hạnh phúc”, ký bằng bút danh Dương Hương Ly.

Chính cái tên ấy đã nói thay rất nhiều điều.

“Dương” là người vợ đã nằm lại.

“Ly” là đứa con thơ còn ở quê hương miền Bắc.

Còn chữ “Hương”, nếu đọc như một dư âm, lại khiến cái tên ấy mềm đi: như hương của ký ức, của tình yêu, của một mái nhà đã bị chiến tranh cắt ngang.

Mỗi lần ký tên Dương Hương Ly, Bùi Minh Quốc như gọi lại cả hai phần máu thịt của đời mình     

Sau này, Bùi Minh Quốc đặt tên cho con gái mình là Bùi Dương Hương Ly. Khi một bút danh trở thành tên thật của một con người, ranh giới giữa văn chương và đời sống gần như tan biến. Người mẹ đã hy sinh, người cha giữ ký ức bằng thơ, còn người con mang ký ức ấy đi tiếp trong đời mình.

***Có những nỗi đau chẳng cần phải cố quên đi. Có những người đã khuất không nên được tiễn biệt một lần rồi khép lại. Với Bùi Minh Quốc, cách để tiếp tục sống là đặt ký ức ấy vào một cái tên, để nó đi cùng mình qua những năm tháng còn lại.

Tên của người vợ đã nằm lại giữa đất Duy Xuyên, của đứa con gái nhỏ lớn lên trong thiếu vắng, và của người chồng suốt đời mang theo một khoảng trống tình yêu.Và vì thế, Dương Hương Ly là một nén hương được thắp lại mỗi lần cái tên ấy được gọi lên.

Ngô Tiến Vinh