Cuối năm 1848, trên con đường thẳm thẳm nối liền kinh thành Huế với dải đất phương Nam, người ta thấy bóng dáng một người đàn bà lay lắt trong gió bụi. Đôi bàn chân rách vì gai góc và đá dăm, vạt áo nâu đẫm mồ hôi dưới cái nắng quái ác của miền Trung. Người đàn bà ấy là Nguyễn Thị Tồn, vợ của vị Thủ khoa lừng lẫy xứ miền nam – Bùi Hữu Nghĩa.
Hàng trăm năm đã trôi qua, người ta thường ca tụng Bùi Hữu Nghĩa như một bậc đại tài trong lòng dân Nam Bộ. Nhưng lật lại những giai thoại dân gian, ta mới bàng hoàng nhận ra: Phía sau hào quang và mạng sống của vị văn sĩ ấy, có một nửa linh hồn mang tên Nguyễn Thị Tồn. Bà là người nâng khăn sửa túi, cũng là người đã cứu chồng, viết nên một trong những thiên tình sử bi tráng nhất dưới vương triều nhà Nguyễn.
Nguyễn Thị Tồn sinh trưởng trong một gia đình nề nếp, có cha là ông Nguyễn Văn Lý, giữ chức Hộ trưởng – một người có uy tín và tiếng nói trong vùng. Tiểu thư họ Nguyễn từ nhỏ đã bộc lộ sự thông tuệ, thạo đường kim mũi chỉ cũng am tường cả chữ nghĩa, cầm kỳ thi họa. Thời bấy giờ, Bùi Hữu Nghĩa là chàng thư sinh nghèo từ Vĩnh Long sang Biên Hòa tầm sư học đạo. Cái nghèo đeo bám khiến ông phải đến ở trọ tại nhà ông Hộ Lý để tiện bề kinh sử. Giữa gian nhà ngập tràn mùi mực tàu và tiếng tụng niệm của thánh hiền, mối tình của chàng học trò nghèo và cô con gái ông chủ nhà đã nảy nở như một lẽ tự nhiên. Bà thương ông cái chí lớn, tài cao và tấm lòng ngay thẳng; ông trọng bà cái nét đoan trang, thấu hiểu và sẻ chia.
Họ thành hôn khi Bùi Hữu Nghĩa còn là một kẻ hàn vi, chưa có danh phận. Sau khi ông đỗ Thủ khoa giải Hương (năm 1835) rồi ra làm quan, cuộc đời bà bước sang một trang mới: Làm vợ một vị mệnh quan triều đình. Thế nhưng, tính tình Bùi Hữu Nghĩa vốn khảng khái, cương trực. Sống cạnh một người chồng “đứng thẳng giữa trời” như thế, Nguyễn Thị Tồn tự nguyện lui về phía sau, quán xuyến gia đình, làm chỗ dựa tinh thần bình yên nhất cho ông mỗi bận sóng gió quan trường bủa vây.
Sóng gió thực sự ập đến vào năm 1848. Khi ấy, Bùi Hữu Nghĩa đang giữ một chức quan tại bộ Lại (có tài liệu chép ông làm Án sát), vì bản tính thanh liêm, ông đã đụng chạm đến quyền lợi của những kẻ cường hào, ác bá và quan lại tham nhũng tại địa phương. Sau đó Bùi Hữu Nghĩa bị vu oan vào đại tội: “Thông đồng với phản loạn” (tương đương với hình phạt tru di tam tộc những triều đại khác). Chiếu chỉ từ kinh đô ban xuống: Bùi Hữu Nghĩa bị tống giam vào ngục tối, chờ ngày ra pháp trường chịu án chém.
Trong phút chốc, bầu trời như sụp đổ dưới chân Nguyễn Thị Tồn. Quanh bà, những người vốn quen biết, họ hàng thân thích bỗng chốc trở nên xa lạ. Họ đóng chặt cửa, né tránh ánh nhìn của bà vì sợ vạ lây từ một “kẻ phản nghịch”. Giữa sự bủa vây của cô độc và sợ hãi, người đàn bà ấy gạt nước mắt, tự nhủ: “Ta là vợ ông ấy. Chồng ta một đời trung quân, nếu đến ta cũng buông tay, thì công lý trên đời này biết gửi vào đâu?” Thời bấy giờ, việc đàn bà con gái can dự vào việc triều chính, đặc biệt là đại án là điều không tưởng. Nhưng lòng yêu chồng và niềm tin vào chính nghĩa đã biến người phụ nữ dịu dàng ấy thành một nghĩa sĩ. Bà quyết định ra kinh đô Huế, đánh trống kêu oan.
Chuyến hành trình từ Biên Hòa ra tới Phú Xuân (Huế) thời bấy giờ là một thử thách sinh tử ngay cả với đấng nam nhi đại trượng phu. Đường sá cách trở, rừng thiêng nước độc, thú dữ rình rập, lại thêm nạn trộm cướp hoành hành. Trong tay chỉ có ít bạc, Nguyễn Thị Tồn dắt díu lương khô, bắt đầu cuộc đi bộ vạn dặm cứu chồng. Có những ngày đôi chân bà sưng phồng, rớm máu, bà phải xé vạt áo quấn lại rồi đi tiếp. Không tìm được quán trọ, bà phải ngủ nhờ hiên chùa, thậm chí là co quắp dưới gốc cây rừng, nghe tiếng hổ gầm vượn hú mà lòng run rẩy. Khi hết tiền, bà dừng lại ở những làng quê dọc đường, xin đi ở mướn, gánh nước, giã gạo thuê để đổi lấy vài bát cháo và vài đồng tiền lẻ làm lộ phí cho chặng đường tiếp theo.
Đặt chân được đến kinh thành Huế cổ kính, qua sự dò hỏi, bà tìm đến dinh thự của Thượng thư Phan Thanh Giản – vị đại thần đồng hương nổi tiếng thanh liêm và biết nhìn nhận người tài. Trước mặt cụ Phan, người đàn bà ấy đã quỳ xuống, kể lại nỗi oan khiên của chồng. Theo truyền tụng dân gian, vì không có mực, bà đã dùng trâm nhọn rạch ngón tay, lấy máu mình để viết lại những dòng huyết thư thấu tận trời xanh. Cảm động trước tấm chân tình hiếm có và biết rõ tư cách của Bùi Hữu Nghĩa, Phan Thanh Giản đã chỉ cho bà: Hãy đến thẳng Tam pháp ty, đánh vào chiếc trống “Kích cổ đăng văn” mà triều đình đặt ra để người dân có nỗi oan khiên tuyệt vọng được quyền tâu lên hoàng đế.
Buổi sáng hôm ấy, tiếng trống Tam pháp ty bỗng vang lên dồn dập. Binh lính áp giải người đánh trống vào giữa điện, trước mặt các vị đại thần đầu triều và vua Tự Đức, người đàn bà nông thôn trong bộ quần áo sờn rách, tư thế hiên ngang, dập đầu tâu rằng: ”Kính lạy bệ hạ. Chồng thiếp là Bùi Hữu Nghĩa. Chồng thiếp từ trước đến nay chỉ biết đèn sách thánh hiền, lòng trung quân ái quốc chưa khi nào thay đổi, sao dám làm việc trái phép nước. Hôm nay thiếp lặn lội về đây, xin bệ hạ minh xét. Nếu chồng thiếp đúng là có tội, thiếp nguyện được chết thay chồng, không một lời hờn giận!” Giọng nói của Nguyễn Thị Tồn vang lên trong trẻo, mạch lạc từng câu từng chữ khiến cả triều đình sững sờ. Vua Tự Đức ngồi trên ngai vàng kinh ngạc trước dũng khí của người đàn bà Nam Bộ này. Sau đó vua hạ lệnh cho đình thần phối hợp với Phan Thanh Giản lật lại hồ sơ vụ án. Và sự thật đã được phơi bày ra ánh sáng. Bùi Hữu Nghĩa tuy có trái luật nhưng không phạm vào tội cấu kết phản loạn. Cảm động trước tấm lòng vàng đá của người vợ, vua Tự Đức đã ban chiếu tha tội chết cho Thủ khoa Nghĩa, giảm án xuống thành tòng quân đoái công chuộc tội tại biên thùy miền Tây.
Câu chuyện còn chấn động kinh thành đến tai Đức Từ Dụ Hoàng thái hậu – mẹ vua Tự Đức. Bà là người phụ nữ thấu hiểu lễ nghĩa, vô cùng cảm kích trước nghĩa khí của Nguyễn Thị Tồn. Đức Từ Dụ đã cho vời bà vào cung, ban yến tiệc và đích thân ban tặng một tấm biển sơn son thếp vàng khắc bốn chữ lớn: “Tiết phụ khả gia” (Người vợ tiết hạnh đáng khen) cùng rất nhiều vàng bạc, châu báu. Thế nhưng, Nguyễn Thị Tồn lạy tạ đức Thái hậu, xin phép chỉ nhận tấm biển nghĩa tình để làm rạng danh tổ tiên, còn toàn bộ vàng bạc châu báu, bà xin gửi lại triều đình. Bà nói, tâm nguyện duy nhất của bà là được sớm trở về quê nhà để sớm ngày lo cho người chồng sau khoản thời gian bị giam cầm nơi ngục tối.
Nhưng than ôi, tạo hóa vốn trớ trêu, ngày vui ngắn chẳng tày gang. Sứ mệnh vĩ đại nhất cuộc đời bà đã hoàn thành, nhưng cái giá phải trả lại quá đắt. Hai năm trời dầm mưa dãi nắng, vượt suối băng rừng, ăn gió nằm sương, cộng thêm sự căng thẳng tột độ về tinh thần đã vắt kiệt những giọt sinh lực cuối cùng của Nguyễn Thị Tồn. Trong khi Bùi Hữu Nghĩa lên đường đi chịu án lưu đày, Nguyễn Thị Tồn cũng quay trở về quê hương Biên Hòa. Nhưng khi đoàn tùy tùng vừa chạm ngõ quê nhà, cũng là lúc sức lực bà tàn lụi. Bà ngã bệnh nặng và trút hơi thở cuối cùng, chưa kịp cùng chồng hưởng một ngày bình yên sau dông bão. Đau đớn thay cho Bùi Hữu Nghĩa, lúc bấy giờ ở nơi biên thùy xa xôi. Nhận được tin dữ, ông đổ gục xuống bên bờ sông. Sự bất lực của một người đàn ông đã kết tinh thành áng văn bất hủ – bài Văn tế vợ bằng chữ Nôm, trong dòng văn học trung đại Việt Nam:
”…Ta nghèo, mình hay giúp đỡ; ta tội, mình biết kêu oan… Mình bệnh, ta không thuốc thang; mình chết, ta không chôn cất; Non sông cười ta chẳng xứng gọi là chồng…”
Thời gian có thể xóa nhòa nhiều thứ, nhưng câu chuyện về người đàn bà đánh trống kêu oan năm ấy thì vẫn sống mãi trong lòng người dân Nam Bộ. Trong một xã hội phong kiến mà người phụ nữ còn bị xem là phận “nữ nhi thường tình” bà đã dám bước qua mọi rào cản đối diện với đấng thiên tử để đòi lại công lý.
Nhà thơ Xuân Diệu từng viết những vần thơ đầy chiêm nghiệm về tình yêu: “Yêu là chết trong lòng một ít / Vì mấy khi yêu mà chẳng chết đâu”. Nhưng với Nguyễn Thị Tồn, bà chọn cách sống mạnh mẽ nhất, rực rỡ nhất để bảo vệ người mình yêu. Bà dám đánh đổi cả sinh mạng, danh dự và sức lực của mình để đổi lấy sự sống cho chồng. Đó đã nâng tầm thành một nghĩa cử cao đẹp, một bài học nhân cách về lòng trung thành, tình nghĩa phu thê.
Đứng trước mộ phần của bà, nhìn khói hương bảng lảng bay trong chiều gió, người ta như vẫn nghe thấy tiếng trống oan khiên ngày nào vang vọng từ kinh thành Huế, và nghe cả tiếng khóc xé lòng của cụ Thủ khoa năm xưa: “Kể từ nay vòi vọi với cô đơn, trời đất ơi sao còn ta ở?”.
Thanh Ngân





