Câu chuyện này không bàn đúng sai, chỉ luận nhân tính.
Xuân đã về đến cánh đồng, trên những cánh đào phai e ấp nở. Xuân cũng đã về đến đầu ngõ, trên những cành khẳng khiu đã bắt đầu trổ lộc non. Nhưng dường như, xuân lại không chạm được đến ngưỡng cửa của căn nhà nằm sâu tít trong hẻm nhỏ, hoặc đã đến rồi, lại không được đón chào.
Chiều muộn, chị cặm cụi trong bếp, nói vọng ra với người chồng đang ngồi thẩn thơ trên bậc hè: “Rồi năm nay anh định Tết bố mẹ bao nhiêu?” Vấn đề này chị đã nói từ hôm 23 ông Công ông Táo, cho tới hôm nay đã là hai bảy âm lịch. Thế mà chồng chị, cái lão chết tiệt chẳng biết làm gì ngoài ngẩn người nhìn trời đất ấy lại chẳng ừ hử gì, cứ để chị làm tất.
Năm nay mất mùa, ruộng nhà bán được có mấy đâu. Tiền trong nhà chẳng lúc nào dư dả, chị cứ kiếm đấy, nhưng rồi nhìn lại chỉ thấy mỗi căn nhà không trống hoác gió lùa mà chẳng được thêm gì sau cả năm vất vả. Còn chồng chị, người vốn là trụ cột gia đình đã chẳng thể làm công việc nặng nhọc gì từ nửa năm trước.
Cái ngày anh bị rơi từ giàn giáo xuống, trái tim chị cũng như bị ném vào đáy vực sâu. Có lẽ trời thương, hoặc có khi là một trò đùa quái ác của số phận cũng nên, anh không đi, nhưng thương tật mãi hằn in trên cơ thể ấy, để lại một xác thịt phàm trần chẳng thể làm nên việc gì.
Từ đó, chị trở thành sức lao động chính của gia đình. Một mình chị cáng đáng mọi việc. Ôi, có khổ cái thân chị không?! Có khổ cái số chị không?! Ngày chị bé, một vị sư già đến xin ăn có bảo mẹ cha chị rằng chị sẽ được hưởng phúc về sau. Nhìn lại cảnh ngôi nhà bé nhất xóm, đồ đạc chẳng bao nhiêu và mình thì đang hì hục nơi xó bếp, chị thầm nhủ có lẽ ông sư già ấy nói vậy chỉ để lấy lòng cha mẹ chị. Đời chị nào còn phúc mà hưởng.
“Bao nhiêu chẳng được, mình tự tính đi.” Vẫn là câu trả lời như bao lần trước.
Chị ném mạnh đôi đũa vào nồi, cao giọng: “Anh nói nghe thì dễ nhỉ, nhưng ông bà chắc gì đã hiểu cho? Biếu ít thì sợ ông bà bảo, năm trước anh không nhớ mẹ anh đã nói những gì à?”
Anh vốn là con thứ không được lòng cha mẹ, lại thêm cái nghèo đã cộ mác cho cả gia đình anh trong mắt bậc phụ mẫu lạnh lùng kia. Mỗi dịp Tết nhất sang đấy, chị lại thấy mình như kẻ bị lột sạch mang ra giữa đình bêu riếu, còn bà mẹ chồng là kẻ ném vào mặt cả nhà chị những lời cay nghiệt dã man nhất.
“Chẳng lẽ nhà mình mang biếu nhiều được?” Anh hỏi lại chị.
Không được. Nhà họ làm gì còn gì đâu mà biếu, đến cả tiền ăn còn lo không đủ, tiền lo cho bọn nhỏ trong nhà chị còn phải đắn đo từng đồng từng cắc. Dành dụm cả năm trời chẳng được mấy đồng, làm sao mà so bì được với bác Cả cô Út mang biếu cả triệu đồng cùng mấy giỏ quà cáp trông đến là sang trọng? Mừng nhiều không được, biếu ít cũng chẳng xong, chị lại nhặt lấy đôi đũa, rầu rĩ khuấy nồi canh.
Căn nhà lần nữa chìm vào im lặng. Anh nhìn về phía mặt trời đang lao xuống như muốn tự kết liễu đời mình vào bức tường thẳng phía cuối tầm mắt, im lặng để hơi thở mình hòa vào tiếng gió lạo xạo lay cành. Rồi một tiếng thở dài thoát ra từ lồng ngực, anh rầu rầu nói: “Giá mà mình không phải người lương thiện.”
Anh nói như thể chính lương thiện đã đày đọa cuộc đời anh, khiến số kiếp đưa đẩy anh thành thằng nghèo mạt rệp. Cũng phải thôi, bởi anh không dám buông bỏ cái “lương thiện” để mà đi ăn cướp, ăn trộm, nhưng cũng không thể vô tư xem nhẹ cái bần cùng. Trời ạ! “Lương thiện” sao? Hai chữ ấy thôi cũng đủ để đè chết anh, đè chết cả nhà anh trong cái đói nghèo và khốn khổ. Giá mà anh liều, giá mà anh dám vứt bỏ lương tâm chẳng đáng mấy hào của mình đi, hay kể mà anh là thằng điên đầu xóm cả ngày chỉ biết chảy dãi nhìn người qua lại thì thỉnh thoảng còn có ai tốt bụng ngang qua vứt cho mấy đồng (dẫu cho nó chẳng biết dùng, dù sao người ta thích thể hiện lòng cao thượng của mình qua những việc làm ấy).
Nhưng đáng thương thay, anh lại là người, một người chẳng thể vứt bỏ tôn nghiêm rồi đêm đêm lại trằn trọc với những lo toan và bứt rứt bộn bề. Anh nghe tiếng vợ dỗ con. Đến tiếng khóc của đứa trẻ còn khẽ khàng và thoi thóp.
Thực ra đã có lúc anh cầm lấy con dao trong tay mà ngẩn ngơ. Tai nạn không cướp mất mạng sống của anh, nhưng nó lại như một con quỷ dữ đeo bám lấy cả nhà anh, từng chút một hút hết sinh khí của ngôi nhà ấy. Tiền bồi thường chỉ đủ viện phí, và còn mấy lần anh lên cơn đau trong những đêm mưa dầm, tiền bạc đã tiêu hết sạch vào tấm thân anh. Dẫu là thế, nhưng anh vẫn không dám chết. Nếu anh chết, ấy chỉ là sự giải thoát cho anh. Còn chị thì sao, còn con anh, còn gia đình anh? Chị đã khổ vì anh, giờ còn phải lo tang cho thằng chồng thất bại. Nào tiền ma chay, nào tiền mời họ hàng, và cả nuôi con. Hai đứa trẻ của anh chị sẽ ngày một lớn, mà “lớn dần lên” không khác nào cái tên của một con quái vật trong anh. “Nó” sẽ nuốt chửng mọi tiền bạc.
Thế không chết thì anh sống có ích gì? Anh còn đi làm việc ở công trường được nữa đâu? Chị lại phải gánh vác trên vai một miệng ăn nữa. Từ lần rơi xuống kia, dường như có chỗ nào trong đầu anh bị tổn thương, khiến anh chậm chạp hơn trong phản ứng và thường hay ngẩn người. Anh không nói với chị, chữa trị mỗi đôi chân đã đủ khiến tiền bạc tiêu tán hết. À, anh lại nhận ra dù mình có sống thì anh cũng chẳng giúp được gì cho người vợ tần tảo của mình.
Hai ý nghĩ cứ tranh giành vị trí trong đầu anh, trong cái đầu dường như khuyết thiếu của anh. Anh cảm nhận được cơn đau nhói quen thuộc vào những đêm thức trắng, và lúc này đây anh đã quen, đã như người ngoài cuộc nhìn vào cơn đau của mình.
“Bố ơi! Con về rồi!” Tiếng đứa trẻ như âm thanh từ cõi mơ nào đó, đôi tai đang ù đi của anh cố nắm bắt một chút thanh âm lãng đãng phảng qua của cốt nhục thân sinh.
Anh gượng cười, cố để vẻ mặt mình trông thật bình thường, thật tự nhiên: “Về rồi hả con? Sao hôm nay về muộn thế?”
“Con ở lại quét dọn sân trường.” Đứa trẻ vào nhà cất đồ, rồi lại chạy ào xuống bếp để phụ mẹ.
Con anh còn hữu dụng hơn anh. Đứa trẻ ấy mới lớp 4.
“Lên nghỉ đi con.”
“Thôi… Thịt này mang cất hả mẹ?”
“Ừ mang lên đi con. À nãy cô Huê có bảo với mẹ…”
Anh ngồi nghe hai mẹ con nói chuyện. Âm thanh vẫn mơ hồ và xa xôi quá. Đập mấy cái vào hai bên tai, anh muốn nghe rõ hai mẹ con đang bàn về chuyện gì. Chắc hẳn vui vẻ hơn những điều anh và chị nói với nhau. Anh thấy đứa trẻ cười. Nụ cười mới tươi sáng làm sao. Đôi mắt nó cong cong, híp lại như chặn mọi lối vào của đám bụi trần vẩn đục. Nụ cười rạng rỡ nở rộ trên khuôn mặt nhỏ nhắn thơ ngây ấy.
Anh cười theo. Tiếng ù ù trong tai biến mất. Thay vào đó là tiếng cười giòn khanh khách của đứa trẻ, và cả âm thanh ê a từ sau lưng khi đứa con nhỏ của anh mới vừa ngủ dậy.
Giá như tất cả dừng lại ở khoảnh khắc này, giá như mọi âu lo, nghèo đói cơ cực ngoài kia dừng lại trước ngưỡng cửa nhà bọn họ, để cho gia đình nhỏ này được hưởng một cái Tết bình yên thì tốt biết mấy.
“Cạch”, tiếng đũa đập vào mâm nghe sao chua chát. Chị vừa rưng rưng và nghẹn ngào: “Bố mẹ nó không dung túng thì sao thái độ nó lại như thế được?!”
Khi nãy, khi vừa bưng mâm cơm lên, bác Cả – anh ruột của chồng chị đã đến chúc Tết nhà họ. Không mang gì theo, đứa trẻ sau lưng y còn vừa đi vừa làu bàu khó chịu. Chỉ có hai bố con họ đến.
Hai bên nói chuyện đôi ba câu, không khí ngượng ngập như không phải anh trai đến mừng năm mới em mà như hai kẻ quen sơ gặp nhau hai lần đang chào hỏi đối phương khi trót gặp lại trên đường.
Cuối cùng, sau đôi câu khách sáo, bác Cả ra về. Trước khi đi, y thấy con chị đang đứng một góc dỗ em, bèn rút từ trong ví ra hai tờ năm mươi ngàn mới cứng đưa cho đứa trẻ. Mệnh giá tờ tiền trong mắt đứa bé ấy là một con số khổng lồ. Hai tay đang bế em không thể nhận, nó luống cuống cảm ơn, rồi thấy tờ tiền được nhét tạm vào bọc tã của em gái trong tay.
Chị cũng vội lục tiền trong túi áo, nhưng khi lấy ra chỉ có mấy đồng hai chục. Đó là tiền chuẩn bị sắm Tết cho gia đình, dù có thể còn chẳng đủ để mua một mâm cơm hoàn chỉnh. Chị cười cười, vẫy tay gọi đứa bé mặc ghi lê đang đứng cách xa mình lại, đặt vào trong tay đứa trẻ ấy mấy tờ hai chục: “Cô chỉ có từng này thôi. Chúc con năm mới mạnh khỏe, học giỏi nhớ. Cô lì xì lấy may nhé. Còn mấy chị em trong nhà không đến, con mang về đưa các chị giúp cô.” Chị cũng ngại ngùng vì chỉ có thể lấy ra từng ấy. Nhưng hết cách, nhà chị nào có nhiều.
Rồi hành động của đứa trẻ như tát vào mặt chị, khiến khuôn mặt gầy gò ấy bỏng rát và đau đớn dữ dội. Nó lật xem đồng tiền, rồi bĩu môi lẩm bẩm: “Cho có mỗi tí này thôi á?”
Bác Cả đứng cạnh đấy, không biết là không nghe thấy hay giả bộ không nghe, y cười xòa rồi như không có chuyện gì, tạm biệt họ: “Thôi anh về nhé. Nay đến rồi Tết anh không qua, khổ lắm, nhà nhiều việc nhiều khách khứa lắm. Tết mấy đứa cũng không cần đến làm gì cho lắm chuyện. Thôi anh đi.”
Chị đứng trân trân tại chỗ nhìn hai cha con họ rời đi, nụ cười cứng đơ vẫn đóng đinh trên khuôn mặt. Bữa cơm hôm ấy mặn chát.
Anh dỗ chị: “Thôi, trẻ con nó chưa hiểu chuyện. Mình đừng chấp nó.”
Chị hé miệng định nói, nhưng nhìn đứa con đang ngồi một góc nhìn mình, chị lại thôi. Chị không muốn để con mình phải nghe những điều cay nghiệt từ chính miệng mẹ nó, người mẹ mà trong mắt đứa trẻ vẫn hiền lành và rất ít khi nặng lời khi nó làm sai.
Chị cũng mong con mình sẽ hiểu chuyện. Nhưng cái giá của hiểu chuyện đắt quá. Một đứa trẻ hiểu chuyện là một đứa trẻ đã mất đi quyền được thơ ngây, và chị thì không muốn con mình bị cướp đoạt quyền đó, bởi chính đôi tay của bậc sinh thành.
Chị lặng im và cơm. Rồi cái Tết này sẽ trôi nhanh thôi. Khi người ta vẫn hằng mong Tết đến, chị lại mong cái Tết trôi thật mau, thật mau, để trông gia đình chị thôi thảm hại.
*****
“Anh mang quà sang Tết anh Giang đi, kia, cái gói bánh kia kìa.” Chị vừa khoác thêm một cái áo ngoài cho con gái, vừa giục anh.
Ngày mùng Hai, gia đình nhỏ dường như được ngấm chút khí xuân. Bé gái mặc lại mấy bộ áo cũ bên trong, còn bên ngoài là một chiếc áo mới hơi chật người. Chiếc áo này là tiền công cả nửa tháng của chị. Lúc mua, chị không khác gì vừa xẻo một miếng thịt trên thân mình xuống, nhưng nhìn nụ cười của con, nhìn đôi mắt to tròn ngập ánh sao trời ấy, chị lại nhịn đau mà rút tiền ra.
Một năm trôi qua, cả một năm ròng con chị mới được khoác lên mình một bộ áo mới không vừa người. Chị không nỡ dập tắt ánh sáng trong mắt nó, để đôi mắt kia trở thành như chị, chỉ còn màn đêm đen kịt vĩnh hằng.
“Rồi rồi, ba mẹ con cứ đi đi, cửa nhà để anh khóa cho.” Anh mỉm cười tiễn ba mẹ con về nhà ngoại, rồi quay đầu khóa cửa căn nhà vốn chẳng có gì đáng ăn trộm.
Bắt một chuyến xe đến nhà anh Giang, lúc xuống anh gửi cho bác xe ôm một xấp tiền lẻ, vừa xoa gáy vừa chúc ông năm mới bình an. Xấp tiền được anh đếm cẩn thận trên đường, được vuốt phẳng lại nhưng vẫn còn mấy nếp nhăn không thể nào ủi thẳng.
“Chúc nhà mình năm mới vui vẻ, làm ăn phát lộc phát tài nhé!” Anh vừa xách quà vừa chúc từ ở cổng.
Chị vợ ra đón anh vào nhà, mấy đứa trẻ đang chơi bên ngoài thấy khách thì rộn ràng cất tiếng chào hỏi. Khí Tết dường như về trong chớp mắt.
Anh Giang nghe thấy tiếng anh, khập khiễng đứng lên, khuôn mặt đứng tuổi cười tươi rói khiến những nếp chân chim nơi khóe mắt càng hằn sâu.
“Anh cứ đợi chú mãi.”
Anh đáp lại anh Giang mấy câu, rồi đặt gói bánh lên bàn. Bàn trà dường như còn thoang thoảng mùi gỗ, lớp kính bóng loáng nằm lẳng lặng “ngắm nhìn” gói bánh nhỏ vài chục nghìn. Vợ anh Giang – chị Thu mang hoa quả ra, đôi mắt khẽ lướt qua gói bánh rồi ngay khi đĩa trái cây đặt xuống bàn đã thu lại. Chị cười thật tươi, nụ cười mà chị hay dùng khi gặp một ông khách mang tới dự án nhỏ tới cho công ty chị. Ngồi xuống cạnh chồng, chị hỏi thăm sức khỏe gia đình anh.
“Chú năm nay làm ăn thế nào?”
Nghe câu hỏi, anh chỉ biết cười gượng, bàn tay đặt trên đùi xoa xoa mấy cái, đáp: “Vẫn vậy thôi anh. Em bệnh tật thế này có ra công trường làm được nữa đâu…”
Một năm nay anh làm ăn thế nào? Anh nào làm được gì đâu. Chỉ có vợ anh cáng đáng hết. Anh cũng muốn làm gì đó, nhưng không bằng cấp, không người móc nối quan hệ, cơ thể lại chẳng làm nên việc gì nặng nhọc, ai thèm thuê cái thân anh?
“Thế à.” Anh Giang chép miệng.
“Năm nay chắc nhà mình làm ăn được anh nhỉ?”
“Được gì mà được, mày xem cái chân anh này, từ hôm đấy có đi làm được đâu. May có cái bảo hiểm chi trả cho, không chắc năm nay anh mất Tết.” Anh Giang khoát tay.
Chuyện cái chân anh Giang đã là chuyện từ mấy tháng trước. Anh đi làm rồi bị đám thanh niên đầu xanh đầu đỏ tông phải, nằm viện ngót một tháng, chân đến giờ vẫn còn bó bột. Nhưng gia đình anh còn có của ăn của để, chị vợ làm quản lý của công ty, bố mẹ hai bên cũng đỡ đần nhiều nên không đến nỗi chật vật. Cho dù không có tiền bảo hiểm chi trả, anh cũng chưa đến nỗi “mất Tết”.
Nói qua loa mấy câu nữa, anh đứng lên xin phép đi về. Anh còn phải về nhà ngoại, giờ ba mẹ con chắc cũng đã về đến nơi rồi.
Bước ra ngoài, anh Giang bỗng gọi với ra. Anh vừa khập khiễng bước vừa bảo: “Chú mày lấy cái xe máy mà đi. Chân anh đi không tiện, chú mày lấy xe mang về mà đi chở thuê ấy, ít ra còn có tí thu nhập. Chứ ở nhà vợ nuôi mãi à?”
Lời từ chối đến bên miệng lại thôi. Anh lại muốn vì lòng tự trọng của mình mà bỏ lỡ cơ hội duy nhất trời cao dúi vào tay sao? Anh xoa gáy, rồi lại chùi hai tay vào quần, ngắc ngứ lại luống cuống cảm ơn anh Giang.
Nhìn bóng dáng anh dần khuất, chị Thu nhíu mày trách chồng: “Sao anh lại cho nó mượn luôn thế? Sau này biết đi bằng gì?”
“Mình chẳng còn cái xe nữa còn gì?” Anh Giang trêu mấy đứa trẻ nhà mình khiến chúng chạy tán loạn, vừa chạy vừa cười khanh khách. Nhìn theo những đứa con đang mặc bộ quần áo mới sạch sẽ, khuôn mặt trắng trẻo vừa nhìn là biết được sống vô lo, anh nói tiếp: “Nhà nó cũng đủ khổ rồi.”
Chị Thu im lặng. Suy cho cùng những cuộc cãi vã đều xảy ra vì suy nghĩ khác nhau, năm mới Tết đến, một người có đôi mắt sáng suốt như chị không muốn gia đình ầm ĩ vì những người tận đẩu tận đâu.
*****
Ở nhà ngoại, chị ngồi nói chuyện với mẹ. Đứa trẻ chơi ở sân cùng các chị em họ, tiếng cười giòn giã cứ quanh quẩn trong không gian. Tiếng cười ấy vui đến thế, nhưng nghe những âm thanh vốn trong trẻo kia, chị lại thấy đầu nặng trĩu.
Mấy hôm nay, chị cứ thấy trong người là lạ. Ban đầu chỉ là mệt, rồi chóng mặt, rồi đôi khi đứng lên lại thấy hoa mắt. Chị nghĩ hẳn là do Tết đến nhiều việc, lại thêm suy nghĩ nhiều ngủ không ngon nên cơ thể mới suy nhược như thế. Thì ngoài lí do ấy ra, chị nào dám nghĩ đến khả năng nào khác.
“Mày gầy đi đấy,” mẹ chị bảo.
“Con vẫn thế mà.”
“Không, gầy thật. Mặt mày xanh lắm.”
Chị cười trừ. Không muốn nói thêm. Sao không gầy cho được. Bữa cơm chị còn không dám ăn nhiều để phần con được no bụng. Lại thêm làm việc quần quật từ sáng đến tối, chị cũng có phải người sắt đâu, sao mà không gầy, sao mà không mệt cho được?
Nhưng chị không dám nói. Dường như nụ cười kia đã trở thành lớp lá chắn cho chị, để cho người ta thấy, cho chính bản thân chị thấy chị còn có thể cố gắng, còn có thể gượng lên giữa lớp bùn đất cuộc đời này.
Nhưng trời sao lại không chiều lòng người như thế. Lúc chị gắng gượng để ngoi lên thì cơn lũ quét lại ập đến. Chị thấy đầu mình choáng váng, và rồi ngất lịm đi trong tiếng kêu thất thanh của mẹ. Trước khi đôi mắt chìm vào bóng tối, chị thấy hình ảnh con chị. Đứa bé lao đến bên mẹ, vội vã, cuống cuồng. Chị muốn nói với con, chậm thôi con, kẻo ngã. Nhưng người ngã xuống trước lại là chính chị.
*****
Anh lê bước vào phòng bệnh, nhìn bóng lưng quay ra cửa của chị. Chị đã tỉnh rồi.
“Bác sĩ nói gì?”
Anh im lặng không đáp. Lời bác sĩ nói dường như còn văng vẳng bên tai anh.
Số phận thật kì lạ. Mới mấy tiếng trước anh còn nghĩ đến tương lai. Anh đi làm kiếm tiền cùng chị, hai vợ chồng sẽ cùng đi cùng về. Bữa cơm của họ sẽ có thêm thịt cá, con cái họ sẽ có thêm những chiếc áo vừa người. Nếu may mắn, có thể đến năm sau, cái Tết của họ sẽ đầm ấm hơn, sẽ có hơi Tết hơn, chị cũng mang về được cho mẹ những gói bánh ngon chứ không phải những hộp bánh rẻ tiền khiến người ta dè bỉu. Còn rất nhiều thứ nữa… Số phận cứ thích trêu đùa con người ta thế đấy. Ngay lúc anh nghĩ nó cuối cùng cũng tha cho số kiếp anh thì bàn tay quái ác ấy lại giáng xuống đầu anh một cú đau điếng.
Bánh răng số phận vẫn cứ dịch chuyển đầy tàn nhẫn, dù cho nơi đó có những con người đã tan xương nát thịt giữa những vòng quay.
Còn may, ít nhất còn có thể chữa trị. Nhưng thật không may, gia đình họ lại chẳng đủ tiền.
Anh muốn trách ông trời, trách cuộc đời này. Nhưng có nghĩa lí gì đâu? Mặc cho anh quằn quại trong bùn lầy, mặc cho anh chìm nghỉm giữa dòng nước xiết, số phận vẫn đứng đâu đó mà hững hờ, lạnh lùng nhìn anh tắt thở trong trò vui của nó.
Nhưng cũng không đợi anh đáp, chị vẫn quay mặt vào tường mà ồm ồm nói: “Nói gì thì cũng kệ. Mai em ra viện.”
“Không được, phải ở lại theo dõi thêm xem thế nào nữa.”
“Có tiền đâu… Tiền đấy để nuôi cái Minh, nó còn bé tí. Còn thằng cu nữa…” Chị nghẹn ngào, hồi lâu không nói thêm nữa.
Trong phòng bệnh bé tẹo gần cả mười người ở chung, anh vẫn nghe thấy tiếng nấc khe khẽ kẹt lại trong cổ họng chị.
Chẳng lẽ không còn cách nào khác nữa sao?
Mắt anh đỏ hoe. Đầu anh hình như lại đau hơn, đau chưa từng thấy. Như có ai đang cầm cái búa, liên tục đập mạnh vào đầu anh, quái ác, hả hê nhìn sự đau đớn quằn quại của người đàn ông ấy.
Ăn trộm ăn cắp? Hay làm những gì cho anh được nhiều tiền nhất có thể, làm cái việc hằng đêm lương tâm anh sẽ không chịu ngủ yên mà trỗi dậy chất vấn? Còn lối thoát nào cho họ? Dù cho có phải hi sinh cả tính mạng lay lắt thì anh cũng chấp nhận. Gia đình anh không cần đến một người chồng, người cha thương tật, nhưng lũ trẻ thì cần đến chị.
“Ong” một tiếng, anh chợt nhớ lại cuộc trò chuyện thoáng qua, nhớ lại câu nói bâng quơ của anh Giang. Anh như người chết đuối vớ được cọng rơm cứu mạng. Có cách! Có cách!
Anh cuống cuồng bước lên, nắm chặt tay chị: “Không, không, nhà mình sẽ có tiền!”
“Tiền đâu ra?” Chị sửng sốt.
Nhưng anh không đáp. Đôi mắt anh sáng quắc, khuôn mặt gần như bị sự vui sướng nhấn chìm. Anh liên tục khẳng định, chỉ là không nói với chị tiền từ đâu ra.
“Mình cứ chữa bệnh đi, rồi tiền học cho con sau này cũng không phải lo nữa. Có cách mà!”
Về nhà, anh thấy con gái đang bế em đứng ngoài cổng lo lắng nhón chân nhìn ra ngoài, như thể qua cách đó, nó có thể nhìn thấy tình trạng của mẹ mình ở khoảng không xa.
“Bố ơi! Mẹ sao rồi ạ?” Vừa thấy anh về, nó đã hỏi ngay.
Anh xoa đầu con, nét cười dịu dàng nở rộ trên khuôn mặt. Anh bế con trai lên, rồi dắt tay nó vào nhà: “Mẹ không sao, con đừng lo.”
Như được trấn an, trái tim đập loạn của đứa trẻ cuối cùng cũng được vỗ về mà trở lại nhịp đập vốn có. Hai cha con ăn xong cơm tối, anh dọn đồ lên chăm vợ ở viện. Trước khi đi, anh ngồi xuống, thật cẩn thận nâng mặt con lên:
“Minh này, con có muốn nhận lì xì, mua áo mới không?”
“C-con không ạ… Bố lấy tiền chữa bệnh cho mẹ đi. Con không cần lì xì, quần áo đâu.” Đứa trẻ hiểu chuyện đến đau lòng.
Anh xoa đầu con, rồi khẽ khàng ôm nó vào lòng: “Bố có tiền chữa bệnh cho mẹ rồi. Còn tiền lì xì, mua quần áo cho Minh là tiền khác. Minh muốn không?”
Đứa bé ngây thơ gật đầu, rồi nở một nụ cười tươi rói. Nụ cười như nắng ấm xua tan đi cái u ám của cả một ngày, khiến anh bất giác cười theo.
“Nhưng đợi năm sau nhé, đợi bố được không con?”
Tuy không hiểu, nhưng nó vẫn gật đầu thật mạnh. Anh nhìn đôi mắt trong veo của con, quay mặt đi.
Thời gian trôi thật nhẹ nhàng, dường như nó đi rất khẽ, lướt qua căn nhà nhỏ không một tiếng động. Những ngày chị ở viện, anh vẫn đến chăm chị, rồi đi chở khách, đến tối về thì chăm con. Anh nhận ra vợ mình đã lặng lẽ vất vả bấy lâu. Đôi vai gầy, cánh tay không khác gì cành củi khô ấy đã chống đỡ cả một mái nhà.
Chị xin ra viện sớm, chỉ uống thuốc để điều trị. Chị vẫn không hiểu anh lấy tiền đâu ra. Từ hôm ở bệnh viện về sau, anh không hề nhắc gì đến chuyện ấy nữa, mặc cho chị hỏi thì cứ hỏi, anh vẫn cứ lặng thinh. Không hiểu sao trong lòng chị như bị một cái gai ghim chặt, khiến lúc nào chị cũng thấy lo sợ. Có thể là do căn bệnh của chị, hoặc cũng có thể do một nguyên nhân nào đó.
Cho đến một ngày giáp Tết, khi chị vừa đi làm về thì nhận được cuộc điện thoại từ số một người trong xóm. Lời người ấy nói ra khiến chị lạnh toát, cảm giác hệt như cái hôm chị nghe tin anh rơi từ giàn giáo xuống.
“Huệ ơi, thằng Thắng nó mất rồi!”
Chị lững thững bước đi như du hồn. Nhận xác anh, làm tang lễ, cho tới khi ôm trong tay hũ tro cốt lạnh buốt, chị vẫn chưa thể tin được những chuyện của mấy ngày qua.
Anh mất. Bị một thanh niên lêu lổng đua xe tông chết. Cung đường ấy vẫn thường hay có người không coi pháp luật ra gì, chị muốn chất vấn anh, vì sao lại chọn đi trên cung đường ấy. Rõ ràng anh cũng biết… Gia đình thanh niên có đến nhà xin lỗi chị, nhưng chị nhất quyết không đồng ý hòa giải. Cuối cùng, họ ném một xấp tiền, đe dọa chị dù cho không đồng ý thì cũng phải chấp nhận.
Đêm đêm, chị lại phải tỉnh giấc vỗ về đứa trẻ có giấc ngủ chập chờn. Con chị sẽ thức giấc giữa đêm, nhập nhèm mở mắt mà hỏi chị: “Mẹ ơi, bố về chưa mẹ?”
Mắt chị cày xè vỗ lưng con, không đáp lại câu hỏi của đứa bé.
Đám tang diễn ra, mắt chị đã không còn giọt nước nào để rơi nữa. Cú đánh bất ngờ của số phận đến một cách đột ngột, khiến cho chị không kịp phản ứng.
Ngồi trong nhà, chị nhìn di ảnh chồng, như thoáng thấy bóng hình anh còn ngẩn ngơ trên hè lúc chiều muộn. Giờ chị lại mong anh cứ thơ thẩn nhìn trời, thế cũng tốt, tốt hơn bây giờ.
Chị vẫn nhủ lòng mình, rồi thì mọi chuyện cũng sẽ qua thôi. Gia đình sẽ quen với việc thiếu đi người đàn ông ấy, chị sẽ quen với việc một mình, còn các con chị sẽ lớn dần, chúng sẽ nhắc đến cha trong sự hoài niệm và những kỉ niệm mơ hồ có hình bóng anh.
Chị cứ nghĩ thế để gượng dậy cho đến gần Tết. Vẫn như năm trước, khí xuân vẫn dừng chân trước ngưỡng cửa nhà chị. Nhưng năm nay, gia đình có vẻ đầy đủ hơn. Chị gọi vọng vào nhà, nhắc đứa trẻ đang dọn lại phòng mình xuống ăn cơm.
“Mẹ ơi, mẹ lì xì con ạ?!” Đứa trẻ vừa chạy vừa vẫy vẫy bao lì xì trong tay.
“Đâu, chưa đến Tết mà đã đòi lì xì mẹ rồi?” Chị nhận phong bao đỏ từ tay con, nghĩ chắc là đứa bé để quên rồi giờ tìm lại được.
Bao lì xì dày cộp, chị thoáng khựng lại, mở bên trong ra xem. Một tờ giấy được gấp thành nhiều nếp, nằm gọn trong giấy gói đỏ. Không hiểu sao tim chị bỗng đập vội. Chị cẩn thận mở từng lớp, đến khi hàng chữ “Hợp đồng bảo hiểm tử kỳ” hoàn toàn lộ ra, tay chị run lên bần bật.
Đứa trẻ lo lắng ngẩng đầu nhìn mẹ. Chị dường như ngừng thở, rồi khuôn mặt kia thay đổi đủ loại biểu cảm, sững sờ, đau đớn, rồi chị vừa khóc vừa cười. Một suy đoán nảy ra trong đầu chị. Chị không dám tin, cũng không muốn tin.
Chị lau nước mắt, đút lại bản hợp đồng vào phong bao đỏ, nắm tay con đi lên nhà.
“Năm nay Minh có muốn áo đẹp không? Bố để lại lì xì cho Minh, bảo mẹ mua áo cho Minh đấy.”
“Thật ạ?”
“Ừ. Bố bảo bố yêu nhà mình rất nhiều.”
“Minh cũng yêu bố lắm!”
Tết năm ấy, gia đình họ đã trải qua một mùa xuân đầy đủ mà lại thiếu vắng nhất trên đời.
Cổ Nguyệt Bạch





