Cuốn sách này, chỉ đơn giản là một mảnh hồn tự sự, thầm kể cho chúng ta những mảnh chuyện về Hà Nội theo lối ẩn ngầm, nguỵ trang bằng lớp vỏ lạc loài.
Hà Nội đang kỷ niệm ngày giải phóng thủ đô 10/10 trong cái lạnh se sắt của đợt gió mùa đầu tiên.
Thật hiếm hoi. Bởi đối lập với phố phường rực rỡ cờ sao, cây cầu Long Biên mặc trầm áo thời gian càng nổi bật vẻ xưa cũ, nhất là khi cơn gió lạnh đang hun hút trên Bãi Giữa, giữa đường ray tàu hoả dẫn vào ga Long Biên, trên nóc chợ Đồng Xuân – Bắc Qua, hay len lỏi giữa những tàn tích của Bến Nứa.
Nhìn cây cầu Long Biên đó nằm kẹp giữa hai cây cầu trẻ trung hơn và hiện đại hơn là cầu Chương Dương và cầu Nhật Tân, chúng ta mới hiểu tại sao đây mới chính là một trong những biểu tượng của một thủ đô nghìn năm văn hiến, trải dài từ Thăng Long đến Đông Đô và bây giờ là Hà Nội, bên cạnh Hồ Gươm, Tháp Rùa, Gác Khuê Văn, Tháp Bút, Nhà Hát Lớn, Nhà Thờ Lớn…
Mảnh đất nào, thời kỳ văn hoá-lịch sử nào cũng cần được biểu tượng hoá bằng những kiến trúc, thứ đủ sức khiến những kẻ thiên di, những người đang sinh sống tại đó phải nhắc tới khi muốn nói về mảnh đất chôn rau, cắt rốn đầy yêu thương, trìu mến của mình.
Cây cầu Long Biên rất nhiều giá trị lớn lao để có thể trở thành một niềm tự hào của người Hà Nội bởi nó xứng đáng được coi là một chứng nhân lịch sử. Khi cây cầu Long Biên xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 (tháng 6/1902), với tổng chiều dài 3.186 mét, nó đã giúp Hà Nội thay đổi mạnh mẽ về diện tích, dân số, đi cùng các giá trị khác như kinh tế, chính trị, văn hoá, kiến trúc đô thị kiểu mẫu…

Xuất hiện ở một một thành phố nằm giữa những con sông, luôn tâm đắc với câu “Nhất cận thị, nhị cận giang”, cầu Long Biên đã nhanh chóng trở thành một huyết mạch chủ đạo cho tiến trình vận động xây dựng và phát triển của Hà Nội trong giai đoạn đầu thế kỷ 20.
Nó trở thành một biểu tượng cho sự ảnh hưởng của nền văn minh và nền văn hoá Pháp tại mảnh đất này, khiến người cha tinh thần của cầu Long Biên – Toàn quyền Paul Doumer – cũng không thể giấu được sự tự mãn khi dùng tên của mình để đặt cho cây cầu là cầu Paul Doumer.
Tính từ năm 1902 đó đến nay đã ngót 120 năm, có nghĩa là đã trải qua 2 lần “đáo tuế”. Cây cầu chào đời năm Nhâm Dần 1902, mừng tuổi 60 vào năm 1962 và giờ vẫn trìu mến nhìn Hà Nội trong ngày kỷ niệm giải phóng thủ đô năm Nhâm Dần 2022.
Trong 120 năm đó, Hà Nội đã đánh bại đế quốc Pháp để giành độc lập vào năm 1945, sau đó 9 năm lại tiễn những gót giày lê dương bước qua cầu Long Biên để vĩnh viễn không được phép quay trở lại mảnh đất này, đồng thời đón những bước quân hành đầu tiên của bộ đội vào giải phóng Thủ Đô vào ngày 10/10/1954.
Bóng ma thực dân, thuộc địa đã bị quét sạch, nhưng Hà Nội vẫn trân trọng và gìn giữ những dấu ấn của văn hoá Pháp còn lưu lại ở mảnh đất này, bởi chúng đã thẩm thấu để trở thành một phần lịch sử và văn hoá của người Hà Nội, tạo ra một sinh cảnh cho những “lớp người mới” được sinh ra giữa Hà Nội an bình có cây cầu Long Biên 19 nhịp thân thương, trong đó có Đông Di.

Đông Di là một người xa lạ với văn chương và viết lách, nhưng điều đó không ngăn cản được chị viết về cuộc đời mình, về biểu tượng cây cầu Long Biên, về tình yêu dành cho Hà Nội và về vẻ đẹp của văn hoá Hà Nội – thứ giá trị vừa mạnh mẽ nhưng ẩn mật, vừa kiêu hãnh nhưng không hề phô trương.
Kỹ năng viết lách của Đông Di thể hiện qua cuốn sách “Những đứa con của cây cầu Long Biên” không cao, không tinh xảo. Ở những dòng chữ đó không có nghệ thuật xây dựng cốt truyện hay cách sử dụng những từ ngữ bóng bẩy, hoa mĩ có thể thao túng tâm lý của người đọc như một số cuốn sách viết về Hà Nội, người Hà Nội những năm gần đây – lối kỹ năng viết có thể biến món bún thang Hà Nội trở thành một cái gì đó “huyền thoại, truyền thuyết, hoang đường”.
Chữ của Đông Di còn lâu mới đạt đến tầm vóc đó, nhưng chữ của chị là thật, mộc mạc song lại có sức quyến rũ khó hiểu vì mô tả được ngôn từ, kiểu cách, phong thái, tư duy và các tiếp biến văn hoá Hà Nội truyền đời. Chỉ cần vài từ ngữ miêu tả của Đông Di, ta nhìn thấy ngay một Hà Nội đã không còn nữa.
“Tôi còn nhớ dáng ngồi của những ông nhạc sĩ già, tấm lưng vẫn thẳng và vững chãi trên những chiếc ghế nhỏ, dạy chúng tôi học ký xướng âm, học đàn Tây ban cầm mộc một cách đầy kiên trì qua nhiều năm tháng” – (Trích trang 40 Những đứa con của cây cầu Long Biên”.

Hoàn toàn không có gì hoa mỹ, tinh xảo trong câu văn này của Đông Di, nhưng đập vào thị giác của chúng ta là tư cách và phẩm giá lịch lãm, ngay thẳng, đàng hoàng của những nhạc sĩ “già”.
Năm tháng, tuổi tác, thời buổi khó khăn không khiến họ phải ngồi cong lưng, ngả ngớn dựa dẫm. Bởi họ đã phải được dạy dỗ, rèn luyện và biến thành phong cách sinh hoạt của cả cuộc đời, từ khi phải “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, phải ngồi ngay lưng, phải sống ngay thẳng, không luồn cúi bon chen, làm mất nhân cách và phẩm giá của con người.
Chỉ cần một hình ảnh “tấm lưng vẫn thẳng và vững chãi”, người đọc có thể thấy được lề lối, phép tắc sinh hoạt của người Hà Nội mực thước và chỉn chu như thế nào mới tạo ra được giá trị của cụm danh xưng “người Hà Nội”. Giá trị đó không thể có trong ngày một, ngày hai hay có lập tức có ngay lúc mua nhà ở Hà Nội.
Có rất nhiều những hình ảnh mộc mạc như thế trong “Những đứa con của cây cầu Long Biên” của Đông Di, và nhớ chính những hình ảnh đó mà độc giả được tiếp cận một khối lượng Hà Nội hào hoa, tinh tế rộng lớn.
Chúng ta sẽ biết cách một bà mẹ Hà Nội gọi con dậy bằng việc ngâm một bài Đường thi, cách ăn bánh gối theo kiểu cắt đầu bánh và rưới nước chấm vào lòng bánh, biết cách dạy dỗ con cái trong gia đình hay những phác thảo chân dung mà chỉ cần nghe một tiếng chửi, xem xoè một que diêm châm đóm hay nghe một nhận xét bâng quơ là biết ngay đấy là “người Hà Nội”.

“Đọc “Những đứa con của cây cầu Long Biên” của Đông Di, không thể nào không liên tưởng tới tình yêu của đám con trai dành cho khu đất trống – tổ quốc nhỏ bé của mình – trong tiểu thuyết

Đông Di là ai? Có lẽ chúng ta cũng chẳng cần biết, mà chỉ cốt rằng, đó là một người phụ nữ Hà Nội, và có rất nhiều câu chuyện “hay ho” về Hà Nội với vùng địa lý là cây cầu Long Biên để kể cho chúng ta. Chị yêu Hà Nội của mình, song cũng đầy dằn vặt về những biến đổi khiến Hà Nội của chị bị biến dạng thái quá.
Đọc “Những đứa con của cây cầu Long Biên” của Đông Di, không thể nào không liên tưởng tới tình yêu của đám con trai dành cho khu đất trống – tổ quốc nhỏ bé của mình – trong tiểu thuyết “Những cậu con trai phố Pál” của Molnar Ferenc (Hungary) hay “Những đứa con phố Arbat” của Anatoli Rybarkov (Nga).
Sự gắn bó với vùng địa lý đó đại diện cho sự gắn bó với một không gian lớn lao lơn. Cây cầu Long Biên của Đông Di không khác gì ngọn tre làng hiện hữu trong tâm trí kẻ đi xa, và là thứ đầu tiên đập vào mắt kẻ sắp trở về. Không gian của cây cầu Long Biên là chợ Đồng Xuân – Bắc Qua, Bến Nứa, ga Long Biên, Ô Quan Chưởng, ngõ Thanh Hà, Bãi Giữa huyền thoại hay bờ đê xa vời bên Ngọc Thuỵ.
Không gian đó có những Lan “Xinh” cầm đầu đám nhóc chạy hàng cho dân buôn, có Hùng “đồng cô” tưởng khờ khạo mà tầm nhìn vượt thời đại, có Thuỷ “Baby” lưu lạc tới khu Bolsa của nước Mỹ… Và có cả những cô giáo dù gia cảnh sa sút vẫn mặc chiếc áo dài hoàng hoa, dẫu cũ kỹ song không giảm chất phong lưu.
Đông Di coi mình luôn là đứa con của cây cầu Long Biên để không lạc lối khi đơn phương bước chân du học và khám phá một phương Tây hoàn toàn xa lạ. Cây cầu cũng là điểm tựa để Đông Di lấy lại sức mạnh mỗi khi tiếp đất trong cuộc chiến văn hoá với phương Tây độc đoán và cao ngạo.
Cây cầu Long Biên cũng là đường dẫn để chị về với ký ức tuổi thơ, về người mẹ thục hiền nhưng nghiêm khắc, và về với niềm tự hào Hà Nội của thế kỷ 20 – thành phố thấm đẫm tinh thần khai phóng, cao đẹp của văn hoá Pháp.
Chúng ta hy vọng sẽ tìm thấy gì ở “Những đứa con của cây cầu Long Biên” của Đông Di? Một tuyệt tác văn chương về Hà Nội? Một kho tư liệu khảo cứu về Hà Nội? Một “Hà Nội băm sáu phố phường” phiên bản mới? Có thể và không thể, bởi Đông Di không viết cuốn sách này với những mục đích đó.
Đây chỉ là cách một người phụ nữ Hà Nội yêu đắm say Hà Nội thể hiện tình yêu đó. Từng câu chữ sạch sẽ, nền giấy trang nhã, có kèm theo rất nhiều tranh vẽ về Hà Nội cùng sự hiện diện nhận xét của các nhân vật “am hiểu Hà Nội như: Nguyễn Ngọc Tiến, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Lai Thuý, Phạm Xuân Nguyên… cũng chỉ là những chi tiết chỉn chu trong việc phơi bày tình yêu đó.
Hãy để Đông Di cho thấy Hà Nội đẹp đẽ thế nào, đáng yêu thế nào, và cũng mong manh ra sao: “Tôi không muốn quay về thế kỷ trước. Tôi muốn đi tới tương lai hoặc ít nhất là được suy nghĩ, tưởng tượng về tương lai của Hà Nội, của những người con Hà Nội…
Một trăm năm nữa Hà Nội sẽ thế nào?”.

Đọc “Những đứa con của cây cầu Long Biên” của Đông Di, không thể nào không liên tưởng tới tình yêu của đám con trai dành cho khu đất trống – tổ quốc nhỏ bé của mình – trong tiểu thuyết “Những cậu con trai phố Pál” của Molnar Ferenc (Hungary) hay “Những đứa con phố Arbat” của Anatoli Rybarkov (Nga).

Lạ lùng thay, chính kỹ năng sử dụng ngôn ngữ văn chương và xây dựng cốt truyện yếu đã khiến cho văn của Đông Di trở nên đặc biệt. Có lẽ, chất Hà Nội đã ngấm sâu vào trong từng tế bào của chị nên khiến những dòng chữ thực tâm, phi kỹ thuật viết lách có sức hút riêng.
Cái chất đó không phải tác gia nào viết về Hà Nội cũng có, nhất là khi họ không sống đủ sâu, đủ chậm trong một bầu khí quyển Hà Nội thuần chất đã biến mất. Tây Thi khẽ chau mày đủ khiến nhân gian chao đảo, người khác cố tình bắt chước ôm ngực đau tim cũng chẳng khiến ai mảy may xao động.
Ba mươi khúc đoản văn của Đông Di trong “Những đứa con của cây cầu Long Biên” thoạt lướt tiêu đề thì thấy chúng chẳng chảy cùng một mạch, nhưng khi đọc, chúng ta sẽ thấy rằng, à ở mỗi đoản văn đó, chị lại hé lộ một mảnh giá trị về Hà Nội và người Hà Nội vùng địa lý của cây cầu Long Biên.
Có khi, Đông Di bắt đầu bằng một vài dòng tự sự về đời mình ở cái xứ xa lơ lắc nào đó nhưng rồi đột nhiên lại rẽ ngoắt về Hà Nội của những đứa con dưới chân cầu Long Biên. Mảnh giá trị hồi ức, chiêm nghiệm, tái hiện ngôn ngữ đó rất bé nhưng đấy lại là viên ngọc trên đỉnh vương miện, khiến cho khúc đoản văn trở nên duyên dáng và hữu dụng, như một chút hương hoa bưởi thoảng trong bát tào phớ.
Cũng có khi Đông Di lợi dụng vốn am hiểu văn hoá phương Tây của mình, để tấn công trực diện vào con mắt khác biệt của phương Tây khi nhìn vào giá trị Hà Nội và văn hoá Việt Nam. Chị yêu văn hoá Pháp, giỏi ngoại ngữ nhưng lại sử dụng chúng để làm rõ giá trị độc đáo của Hà Nội.
Những cuộc tranh luận Đông – Tây thường xuất hiện trong “Những đứa con của cây cầu Long Biên”, qua những vấn đề nhạy cảm như quyền bình đẳng nam nữ, quá khứ chiến tranh, cách hưởng thụ ngày lễ tết, cách tiếp đón khách khứa… hay đơn thuần chỉ là góc nhìn về một thứ vừa xảy ra.
Những điều trên sẵn sàng gây ra những cuộc tranh luận tràng giang đại hải, nhưng Đông Di luôn giải quyết rất ngắn gọn bằng cái chất “Hà Nội tỉnh như ruồi, tự nhiên như ruồi” của mình.
Không ai có thể hiểu được cái chất Hà Nội đó nếu không phải là người Hà Nội, cho dù có học rộng tài cao hay giàu có thế nào. Nếu cố khiên cưỡng áp đặt, Đông Di sẽ duyên dáng thốt ra một câu chửi tục của phương Tây dành cho gã phương Tây cứng đầu kia. Một phong cách Hà Nội “vừa biết cắm hoa, vừa biết nói tục” cũng rất đặc sắc.

Tuệ Lam

 

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư “ly” kiêm thủ “hoán”,

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

Bản dịch:

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần. 

Qua bài thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình hòa quyện cùng nhịp sống lao động sôi động và những chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Mở đầu, bức tranh bến sông hiện lên đầy tĩnh lặng và nên thơ: “Gió im sóng lặng dạo bên sông / Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng”. Không gian khoáng đạt với gió êm sóng lặng tạo nên nền tảng hoàn hảo cho ánh nhìn quan sát. Từ điểm nhìn ấy, những chiếc thuyền chài hiện lên nối đuôi nhau giăng hàng trên mặt nước, tạo nên đường nét hài hòa, đậm chất hội họa, mở ra một khung cảnh yên ả và tràn đầy sức sống của vùng sông nước.

Sự chuyển động của con người thổi bùng lên sinh khí cho bức tranh bến đá: “Tay kiếm hang rồng sông mở lối / Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng”. Tuy chỉ là hoạt động đánh bắt cá, nhưng qua ngòi bút phóng khoáng của nữ sĩ, hành động ấy đã được nâng lên thành tầm vóc tráng lệ, hào hùng. Cùng với đó là nhịp sống thương mại đời thường tấp nập, ấm áp tình người: “Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối / Ông lái gõ chèo chén rượu nâng”. Tất cả đan cài uyển chuyển giữa những cảnh lao động dung dị, gần gũi của đời thường, khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ chiêm nghiệm sâu sắc: “Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán / Thánh nhân định vật, ý người trần”. Việc mượn các quẻ trong Kinh Dịch (quẻ Ly và quẻ Hoán) thể hiện sự thấu hiểu quy luật biến dịch khôn lường của tự nhiên và vũ trụ. Triết lý của thánh nhân trong việc mở mang vạn vật luôn hòa hợp với lòng người và nhịp sống tự nhiên. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự thấu triệt quy luật cuộc đời, tìm thấy sự an nhiên, thuận theo tự nhiên trong từng khoảnh khắc tồn tại.

“Thạch Phố Quan Ngư” là một hành trình thị giác và tâm hồn đưa người đọc hòa mình vào bức tranh thiên nhiên, đời sống và vũ trụ bao la. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc ngắm cảnh đánh cá bên bến đá và từ đó mở ra những tầng sâu triết lý về nhân sinh, nhắc nhở con người về sự hòa hợp giữa ta với đất trời, vũ trụ.

Thanh Ngân

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,
Phá kệ tàn bi yểm lục đài,
An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Bản dịch:

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh đá có duyên dời viên khác,
Chuông không giá móc vất bên đài,
Ngói tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư không một tối dựng lâu đài.

Bài thơ khắc họa sự hoang tàn, tiêu điều của chốn thiền môn qua lăng kính hoài cổ, đồng thời gửi gắm khát vọng hướng về sự tái thiết và những giá trị tâm linh vĩnh hằng.

Mở đầu, bức tranh chùa Khánh Minh hiện lên với vẻ vắng lặng, đìu hiu đến nao lòng: “Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại / Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy”. Không gian thiêng liêng xưa nay chìm trong phế tích, cỏ dại phủ lấp khắp nơi. Những vật dụng gắn liền với chốn tu hành giờ đây rơi vào cảnh lưu lạc, bơ vơ: “Khánh đá có duyên dời viên khác / Chuông không giá móc vất bên đài”. Sự tản mát của khánh, của chuông càng làm nổi bật sự trống trải, lạnh lẽo của một thời vang bóng nay đã chìm vào quên lãng.

Nỗi buồn hoài cổ thêm thấm đượm qua những hình ảnh chạm đến sự đổ nát tận cùng: “Ngói tan, xà mục chim làm tổ / Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi”. Mái ngói vỡ nát, xà nhà mục ruỗng giờ đây chỉ còn là chốn cho chim chóc lui tới làm tổ; bệ thờ, bia đá ngàn năm cũng bị lớp rêu phong vùi lấp. Cảnh tượng ấy gợi lên sự ngậm ngùi khôn nguôi trước quy luật vô thường của thời gian, khi những công trình vĩ đại hay chốn phật đường trang nghiêm cũng không thắng nổi sự bào mòn của thời gian.

Kết lại bài thơ, tác giả bất ngờ đẩy cảm xúc lên bằng một khát vọng lớn lao, đầy tính triết lý và mộng tưởng: “Giá được ngàn tay như Phật Tổ / Hư không một tối dựng lâu đài”. Giữa cõi điêu tàn, nhà thơ khao khát có được quyền năng của Phật nghìn mắt nghìn tay để xây dựng lại chốn thiền môn chỉ trong một đêm. Đó là mong ước phục dựng một ngôi chùa, còn là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, sự thiết tha gìn giữ những giá trị đạo đức, tâm linh cao đẹp trước sự tàn phá của thời gian.

“Bộ Khánh Minh Tự Cảm Hứng” là một khúc ca hoài cổ đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Bài thơ đưa người đọc chạm đến những khoảng lặng của tâm hồn, để từ đó thêm trân trọng những giá trị văn hóa, tâm linh và biết sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc của hiện tại.

Thanh Ngân

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Bản dịch:

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và đầy sức sống trên vùng sông nước Hoa Phong qua góc nhìn phóng khoáng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Mở đầu, hành trình qua vũng Hoa Phong hiện lên thật nhẹ nhàng, thư thái giữa không gian hoang sơ: “Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong / Đá dựng bờ son mọc giữa dòng”. Chiếc thuyền nhỏ với cánh buồm đơn sơ lướt đi thong thả giữa cảnh sắc vách đá dựng đứng và những bờ son vươn lên mạnh mẽ giữa dòng nước. Sự tương phản tinh tế giữa con người nhỏ bé và thiên nhiên đã mở ra một khung cảnh khoáng đạt, đầy ngoạn mục.

Cảnh quan tiếp tục vận động qua sự hòa quyện kỳ diệu giữa núi và nước, cùng nhịp sống của muôn loài: “Dòng nước lần theo chân núi chuyển / Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông”. Dòng nước uốn lượn uyển chuyển theo hình thế núi non, vô cùng nhịp nhàng. Nơi ấy, thiên nhiên còn tràn đầy sinh khí với “Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt / Âu lộ cùng bay bóng xế hồng”. Hơi thu mờ ảo hòa quyện cùng đàn chim âu trắng bay lượn dưới ánh nắng chiều đỏ rực, đã vẽ nên một bức tranh vừa huyền ảo, vừa ấm áp.

Kết lại bài thơ, Hồ Xuân Hương mở ra một không gian tưởng tượng huyền thoại đầy mê hoặc: “Băm sáu phòng mây cùng động ngọc / Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?”. Đứng trước vô số hang động kỳ vĩ và những phòng mây ẩn hiện, nữ sĩ ngỡ ngàng tự hỏi không biết đâu mới thực sự là cung điện Thủy Tinh lộng lẫy. Câu hỏi tu từ cuối bài là sự thán phục trước vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa, cũng bộc lộ tâm hồn bay bổng, lãng mạn của người lữ khách khi lạc bước vào cõi tiên.

“Độ Hoa Phong” như bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, đưa người đọc đắm chìm vào cõi thiên nhiên giao hòa, kỳ vĩ. Bài thơ ghi lại dấu ấn của một chuyến hành trình qua vùng sông nước và đánh thức tình yêu thiên nhiên, để lại dư âm bồi hồi mãi trong lòng người thưởng thức.

Thanh Ngân

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc bất ngõa từ giai bất thế,
Nham như tường bích thạch như diên,
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

Bản dịch:

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách như tường lát, đá như sườn.
Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,
Ong mật dâng hoa trước án hương.
Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên tĩnh mịch, hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh vật hoang sơ và tâm hồn thiền định thanh tịnh.

Mở đầu, không gian ngôi chùa cốc hiện lên đầy nguyên sơ, cổ kính và huyền bí: “Thần bào quỷ đẽo tự bao niên / Hình thể an bài sẵn tự nhiên”. Ngôi chùa ẩn mình trong hang đá, tựa như được bàn tay thần quỷ đẽo gọt qua muôn năm, mọi sự sắp đặt đều thuận theo tự nhiên, vượt lên trên dòng chảy của thời gian. Nét mộc mạc ấy càng được tô đậm qua hình ảnh kiến trúc đơn sơ: “Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát / Vách như tường lát, đá như sườn”. Không hề có dấu vết của nhân thế, tất cả đều hòa vào đất trời, mang lại cảm giác tĩnh tại, rũ bỏ hoàn toàn bụi trần.

Sự giao cảm kỳ diệu giữa vạn vật và chốn linh thiêng được mở rộng qua những hình ảnh sinh động, đầy tính triết lý thiền môn: “Đàn dơi cúng trái đài sen quý / Ong mật dâng hoa trước án hương”. Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, mang cả quả ngon, hoa thắm đến cúng dường trước án Phật. Chốn thiền môn lúc này không còn khoảng cách giữa con người và muông thú, giữa thực tại và cõi thiêng, tất cả đều chìm đắm trong sự hòa hợp, tôn nghiêm và thanh tịnh vô biên.

Kết lại bài thơ là khoảnh khắc thức tỉnh đầy vi diệu và sâu lắng: “Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót / Sư già chợt tỉnh giấc miên mang”. Những âm thanh của cuộc đời và thiên nhiên hòa quyện: tiếng sóng vỗ, tiếng ca của người tiều phu, tiếng chim chóc hót vang… đã đánh thức vị sư già khỏi giấc thiền định sâu thẳm. Tiếng động ấy là chất xúc tác đánh thức tâm thức, đưa con người trở về với thực tại minh triết, chạm đến cõi giác ngộ.

“Cốc Tự Tham Thiền” là hành trình đưa tâm hồn trở về với bản nguyên thanh tịnh nhất. Đứng trước không gian khoáng đạt và thâm trầm của chùa Cốc, con người như tìm thấy chốn bình yên sâu thẳm trong nội tâm, nơi mọi phiền muộn trôi đi, để lại sự an nhiên, trong từng nhịp sống.

Thanh Ngân

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi,
Thiên quân bảo khí minh lưu thuỷ,
Cửu cấp phù đồ hoá kiếp hôi,
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

Bản dịch:
Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn cân bảo khí reo bên nước,
Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Bài thơ khắc họa sự đối lập sâu sắc giữa hào quang quá khứ và sự tịch liêu của hiện tại.

Mở đầu, cảnh tượng hoang tàn hiện lên: “Cổ tháp di khư loạn thảo đôi / Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi”. Dấu tích của vị vua xưa nay trở thành đống đổ nát, cỏ dại bao phủ. Những giá trị từng được coi là vĩnh cửu như “Thiên quân bảo khí” hay “Cửu cấp phù đồ” giờ đây đều “hoá kiếp hôi”, trở về với cát bụi. Hình ảnh này khẳng định uy quyền và vật chất hữu hình hoàn toàn chịu khuất phục trước quy luật tự nhiên, chứng minh sự thịnh suy vốn là lẽ tất yếu của nhân thế.

Sự tương phản giữa tàn tích lịch sử và nhịp sống đời thường tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ: “Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng / Mục nhi khu độc há sơn ôi”. Trong khi di tích vĩ đại sụp đổ, người tiều phu vẫn thản nhiên tựa rìu ngủ trên đá, mục đồng vẫn xua đàn nghé xuống đồi. Cuộc sống đơn sơ, chân chất của con người đại diện cho sự vĩnh cửu. Họ chính là chủ nhân thực sự của ngọn núi, là hiện thân cho sự sống bất diệt, hồn nhiên và an nhiên giữa thiên nhiên tĩnh lặng.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ gửi gắm sự giác ngộ qua câu hỏi: “Đăng cao dục hội sơn tăng giảng / Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi”. Người thi sĩ tìm đến chốn chùa cao, mong cầu lời giảng đạo từ sơn tăng, nhưng chỉ nhận lại âm thanh tiếng chuông ngân vang. Đây chính là câu trả lời trọn vẹn nhất. Tiếng chuông chiều phá vỡ sự trầm mặc, xóa tan mọi thắc mắc về lẽ được mất. Chân lý hiện hữu trong âm thanh vang vọng, trong phút giây thực tại khi lòng người tĩnh lặng.

“Tháp Sơn Hoài Cổ” là hành trình người đọc tìm về cái gốc của tâm. Khi đứng trước sự đổ nát, con người nhận ra giá trị của sự bình yên. Bài thơ trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn rũ bỏ gánh nặng của thời gian, tìm về sự an nhiên giữa vòng quay sinh diệt. Mỗi âm thanh vang lên trong bài thơ đều là tiếng nói của sự thức tỉnh, mời gọi con người sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Thanh Ngân

Truyền văn Phật tích tại Linh San,
Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc tức thị không không thị sắc,
Thiền gia đương tác như thị quan.

Bản dịch:

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc tức thị không, không thị sắc
Thiền gia hiểu thế việc trần gian.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Phật Động Thâm U tựa như một nốt trầm sâu lắng, đưa người đọc rũ bỏ những ồn ào bụi bặm để bước vào hành trình tìm về cõi tịch liêu.

Mở đầu, nữ sĩ đưa ta vào không gian thiền vị bằng lời dẫn đầy tự nhiên: “Truyền văn Phật tích tại Linh San / Cận đắc sơn ông chỉ thử gian”. Nếu “truyền văn” gợi vẻ huyền thoại xa xôi, thì hình ảnh “sơn ông” chỉ lối lại kéo người đọc về với sự gần gũi của miền sơn cước. Người dẫn lối gắn bó cùng núi rừng, để bầu không khí trở nên chân thật. Ở đây, chân lý hiển hiện ngay khi con người tìm về tự nhiên nguyên thủy, lắng nghe sự chỉ dẫn từ những điều bình dị nhất.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục hiện lên qua hình ảnh “cửa động”, “đường cỏ dại” và “dấu rêu mòn”: “Động khẩu thiển thâm hoang thảo kính / Tự ngân nồng đậm ấn đài ban”. Những nét chữ xưa cũ chìm sâu dưới lớp rêu phong chính là hiện thân của tính vô thường. Thời gian khẳng định quyền năng vĩnh hằng khi xóa nhòa dấu tích hữu hình của thánh nhân, nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc của thiên nhiên. Sự phai nhạt của văn tự chính là lúc đạo hiển lộ, đưa lẽ thật của đời sống hòa quyện trọn vẹn vào cảnh vật.

Nhịp điệu bài thơ dần chậm lại, đi sâu vào sự chiêm nghiệm: “Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại / Cấp thủy biên khê tỉnh bất can”. Hình ảnh chiếc cầu soi bóng ngoài hồ và cái giếng bên khe nước là biểu tượng cho sự bất biến giữa dòng đời biến động. Dẫu vật đổi sao dời, dẫu đèn thả ngoài hồ tàn đi, sự thanh tịnh trong tâm thức vẫn vẹn nguyên, tràn đầy sức sống. Đó chính là sự tương thông giữa cái hữu hạn của ngoại cảnh và cái vô hạn của nội tâm: khi tâm an, thế giới xoay vần vẫn giữ được sự trong trẻo, tinh khôi của dòng suối trí tuệ đang luân chuyển trong mỗi người.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không thị sắc / Thiền gia đương tác như thị quan”. “Sắc” và “Không” lúc này trở thành hơi thở của vạn vật. Thiền gia tìm thấy Phật ngay trong sự chuyển hóa không ngừng của cái hữu hình và cái vô hình. Đó là thái độ sống thấu suốt sự đời hư ảo để đạt tới sự bình thản tuyệt đối. Khi buông bỏ sự bám víu vào “sắc” hay “không”, con người sẽ chạm đến cõi an nhiên, tự tại.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biến không gian hang động u tịch thành thánh đường tâm thức, nơi mọi vọng niệm được thanh tẩy bởi sự tĩnh lặng của Linh Sơn. Qua cái nhìn đầy tuệ giác, ta nhận ra Phật hiện hữu trong chính hơi thở nhẹ nhàng của cỏ cây, khe suối, và trong sự thức tỉnh của lòng người giữa cõi thế. Để mỗi cá nhân có thể tự tìm được cho riêng mình một “Phật động” thanh tịnh, nơi bản ngã an yên, hòa nhập vào vũ trụ bao la.

Thanh Ngân

Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739-1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Tổng biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 255 Thể loại: Truyện ký In

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 238 Thể loại: Tản văn In và

THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày mùa hoa văn chương đầu tiên của Nguyễn Thị Thiếu Anh lụi tàn. Cô nữ

Lịch sử không dành cho đôi vợ chồng trẻ quá nhiều thời gian bình yên. Chỉ vài năm sau, Cách mạng tháng Tám bùng nổ,

Trong màn họa thơ với chàng “Vô danh” ở phần trước, Nguyễn Thị Thiếu Anh từng kiêu hãnh tuyên bố: “Thiếu Anh”? Ta thiếu anh