Quả thật, tôi không biết một tí chút gì về cây bút Đông Di. Qua một người bạn đồng nghiệp ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II mà tôi có cơ duyên được đọc tập tản văn Hồ Xuân Hương và Tôi.

Một vài trao đổi ngắn gọn với bạn đồng nghiệp không soi sáng chút nào cho tôi trong cách định danh thể loại tản văn Hồ Xuân Hương và Tôi như những hợp thể của bút pháp hư cấu (Fiction) cùng phi hư cấu (Non-fiction) và hình thức lưỡng phân, giao thoa, bán phần hư cấu (Semi-fiction) giữa các thể dụng “những ghi chép du hành” với du khảo về đất nước Nepal, giữa sự lạc bước không gian “những miền đất xa lạ” với ngược chiều thời gian suy tưởng “tìm kiếm những giá trị cổ xưa”, giữa những tương đồng trải nghiệm tinh thần “sức sống từ thơ ca Hồ Xuân Hương” với năng lượng khai phóng “tiếng nói đầy sức sống”, “mở ra một con đường” và “câu chuyện của niềm tin”…

Đọc Hồ Xuân Hương và Tôi, trước hết tôi được dẫn dụ bởi diễn ngôn du ký và lời kể sự thật với những người thật, việc thật, thời gian, địa điểm, sự kiện thật, cảnh quan thật và những đối thoại như thật: “Tôi rủ Mỹ Lai tới Nepal”, “Từ Hà Nội không có chuyến bay thẳng tới Nepal nên chúng tôi phải ngủ lại một đêm ở Bangkok…”, “Sư cô vốn là người Hà Nội, trước đây là giảng viên tại một trường đại học kỹ thuật lớn ở Việt Nam”, “Ngày mai sư cô cũng sẽ bay chuyến bay sớm tới Sri Lanka”, “Em nghĩ xem, còn có ai có thể làm thơ hay như vậy, thâm thúy đến vậy ngoài Nữ thần của chị. Đây chính là bài Vịnh ni sư. Em đọc thử đi. Tuyển tập thơ Nôm của tác giả Kiều Thu Hoạch này hay lắm. Chị thấy đây là bản hay nhất trong số các bản phiên âm thơ của Nữ thần”… Khó mà nghi ngờ tập tản văn Hồ Xuân Hương và Tôi với đầy đủ các đặc điểm chuyến du ngoạn thiên về vị nghệ thuật, lấy trải nghiệm Đi và Xem làm mục đích, lại không phải là du ký?…

Có thể thấy “mặt nạ du ký” tản văn Hồ Xuân Hương và Tôi khéo được che phủ, lồng ghép nhuần nhuyễn bởi diễn ngôn chủ thể tác giả luôn mở theo thời gian tuyến tính và theo không gian bước chân du ngoạn, du hành, du lịch. Hành trình chuyến đi làm nên cấu trúc tác phẩm gắn với những cung đường, những địa danh lịch sử, những thắng cảnh, những điểm di tích tâm linh, những chùa chiền, đền, miếu (Đường tới Nepal Lumbini KatmanduBà la mônBí mật gia tộcTây ĐộcTừ Mật tông đến Thánh chiến). Đặc tính “mặt nạ du ký”, “giả du ký” của tản văn Hồ Xuân Hương và Tôi mê hoặc người đọc bởi những chi tiết “như thật” và “thật như thật”, chân thực, gợi cảm: “Ngồi đợi chờ, vạ vật vài tiếng đồng hồ ở sân bay nhất định không phải là một trải nghiệm dễ chịu…”, “Hai chúng tôi lại chia nhau mang vác hành lý đi vào trong khách sạn”, “Khi bước chân vào khu vực thánh địa, tôi vừa ngỡ ngàng vừa nhiều cảm xúc”, “Buổi chiều ở Lumbini, mặt trời dường như buông xuống cũng nhanh hơn”,  “Tôi và Mỹ Lai tới khách sạn ở Katmandu vào buổi trưa”, “Ngày cuối cùng chúng tôi ở Katmandu, theo lịch trình Ram sẽ đưa chúng tôi đi thăm chùa Swayambhunath”, “Chúng tôi rời Katmandu vào buổi sáng”, “Tôi nhớ lại tất cả những chuyện này là bởi vì tôi đang đứng trước một bức tượng Phật phối ngẫu được đặt chính giữa tại một căn phòng rất đẹp, tràn ngập ánh nắng trong một thiền viện Mật tông”… Bên cạnh hai nhân vật chính chủ thể Tôi (Đông Di) và Mỹ Lai, từ khi xuất hiện thêm vai phụ sư cô nghiên cứu sinh, người phụ nữ “giáo thọ của tăng đoàn Làng Mai”, hướng dẫn viên du lịch tên Ram, hành giả Tây Độc người Pháp, Trần Jacque – Ả Trần  gốc Việt xinh trai và sư phụ Rinpoche thì các chủ điểm nhân tính, tình yêu, triết học, mỹ học, tâm linh, tôn giáo, Phật giáo ngày càng được nâng cao, khai thác sâu rộng hơn. Các nhân vật ở đây hầu hết thuộc tầng lớp trí thức “nhà có điều kiện” và các tu sĩ thiên về tìm đường cứu rỗi tinh thần (khác biệt với kiểu nhân vật bần cố vốn chỉ lo về cái bụng) nên có thể nâng tầm suy tư, suy tưởng và tranh luận các vấn đề cõi người và cõi trời, thực tại và vĩnh hằng, giải thoát và siêu thoát. Điều này tiếp tục được gia tăng, tô đậm trong các đề mục tiếp theo (Ả TrầnCông chúa của vương triều nhà LêThăng Long thuở ấy Cổ Nguyệt đườngCố nhân) và đặc biệt gắn với những cảm nhận, sự tiếp nhận, luận bình, phán quyết về Thánh nữ – Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng như phẩm chất hiện sinh Hồ Xuân Hương tiềm ẩn và hiện diện trong mỗi con người…

Có thể thấy rõ dòng thời gian trong Hồ Xuân Hương và Tôi vận hành theo tuyến tính chuyến du hành thì không gian ở đây hoàn toàn thuộc về thế giới tâm linh, cho dù luôn thay đổi từ đất nước này sang nước khác, từ miền này sang vùng khác, từ thành này sang núi khác, từ khách sạn này tới tòa tháp khác, từ chùa này sang chùa khác, từ đền này sang đền khác và từ thánh địa này sang thánh địa khác. Trong thực chất, ám ảnh nghệ thuật ở đây không phải là chủ thể Tôi đi kiếm tìm bản thể Tôi mà chính là Hồ Xuân Hương đã đóng vai trò tiền đề, căn số, căn cước, quy định, quy ước, dẫn dắt, mở đường, soi đường, định hướng cho Tôi “và Tôi” giữa những mơ hồ, khát khao, chập chờn, bất định. Một chi tiết, sự kiện, hiện tượng giữ vai trò gài nút thật và không thể thật hơn: “Biết tôi yêu thích thơ Hồ Xuân Hương, một người bạn đã tặng cuốn Thơ Nôm Hồ Xuân Hương của tác giả Kiều Thu Hoạch và gửi về cho tôi đúng lúc tôi đang sắp xếp hành lý để lên đường đi Nepal”. Từ đây, tập thơ, chất thơ và Thánh nữ thơ Hồ Xuân Hương trở thành cái chốt quạt cho mười sáu nan trữ tình hiện sinh mở bung ra trong những hồi ức, suy tư, khát khao, ước vọng với nỗi nhớ tình xưa, những đối thoại xa gần, những đổ vỡ chia ly và gặp gỡ tái hồi, những tâm tư phản kháng và quy phục, những độc thoại chính luận và trữ tình… Người đọc làm quen dần từ nhan đề tập thơ, việc cảm nhận một vài câu thơ và dẫn cả bài thơ Vịnh ni sư, càng về cuối thì câu chuyện về thơ và tình thơ Hồ Xuân Hương càng đậm đặc hơn, say đắm hơn. Sự phổ biến, phổ cập và nhân tính hóa thơ Hồ Xuân Hương được nâng cấp ở việc dẫn nguyên văn bản dịch tiếng Pháp bài thơ Vịnh cái quạt và tiếng Anh bài Vấn nguyệt – Hỏi trăng, trở thành tâm điểm, thử thách và thước đo nhận thức, tri thức, tình yêu, tình người, phẩm giá với hầu hết các nhân vật.

Có thể là một sự ngẫu nhiên của thi pháp “Họa long điểm nhãn” khi mà chính Pierre de G. Tây Độc đã từng mua tập thơ Hồ Xuân Hương do học giả người Pháp Maurice Durand dịch để tặng cho Đông Di. Nối tiếp là đoạn đối thoại giữa Tây Độc cùng Mỹ Lai mà chính Tôi – Đông Di đã thoáng nghe được và bày tỏ thái độ:

“- Vậy sao? Thế anh có đọc những bài thơ này của Nữ thần của Đông Di không?

– Có chứ. Nhưng không nhớ nhiều. Tuy nhiên, anh vẫn nhớ câu bình luận của ông Maurice Durand.

– Ông ta bình luận thế nào?

– Ông ấy nói nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một người đàn bà phóng đãng, bị ám ảnh bởi ham muốn dâm dục và điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của bà.

Tôi nghe Tây Độc nói như vậy thì không thể giữ được bình tĩnh nữa, cũng không thể ngồi yên thư giãn được nữa. Nỗi đau đớn, cùng với sự tức giận tột cùng như một ngọn lửa thổi bùng lên trong tâm khảm, đã biến đổi tôi trong phút giây ngắn ngủi thành một con người hoàn toàn khác. Tôi không còn là một người hòa nhã nữa mà đã trở thành người đang trong cơn giận dữ đến không thể kiềm chế. Tôi đi rất nhanh tới khu đảo bếp và hét vào mặt Tây Độc:

– Cái lão Maurice Durand kia mới là phóng đãng, dâm dục. Cả đám nhà các anh mới là phóng đãng, dâm dục. Các anh đã dùng tâm hồn dung tục để đọc thơ của Nữ thần của tôi, thật làm ô uế những vần thơ. Anh biết không, tôi đã ước rằng, giá như lũ các anh mù chữ, vậy thì chẳng bao giờ có thể đọc được đến thơ của bà mà đem ra phê bình hay bình luận.

Tôi nói xong những câu này, mà trong lòng như muốn khóc. Tại sao cái đám Tây, Tàu này, rồi cả đám học giả ta nữa lúc nào cũng nói thơ của Nữ thần là dâm dục? Họ thấy như thế thật sao? Tại sao tôi lại không thấy như vậy? Tôi chỉ thấy mỗi bài thơ của bà hiện ra giống như một bức tranh vậy, và mỗi bức tranh là sự phản ánh một khía cạnh của hiện thực trong đời sống nơi trần gian. Xin hỏi rằng từ xưa đến nay đã có văn sĩ nào làm được như vậy chưa?

Đẳng cấp của bà phải là đẳng cấp của một đại thi hào.

Nữ thần của tôi chỉ vì yêu thương con người, cảm thông với thân phận nổi trôi của muôn kiếp nhân sinh mà làm thơ. Bà đã đem tài năng của mình để phục vụ nhân dân mà không cần phải suy nghĩ hay băn khoăn để xem xét; nghệ thuật nên vì nghệ thuật hay nghệ thuật nên vì nhân sinh”…

Thực ra, sau những dẫn giải bất chợt, thoáng qua về các nhà Hán học Maurice Durand (1914-1966) và Kiều Thu Hoạch (sinh 1934) cùng khảo cứu văn bản thơ Hồ Xuân Hương, những gợi nhớ về công trình của Thích Nhất Hạnh (1926-2022), những trích dẫn thơ Hồ DZếnh (1919-1991), những câu chuyện “mẹ tôi” kể về các ngôi chùa, về gia tộc thời Lê, về hoàng đế Ung Chính, về Mật tông, về Lạt Ma và mở rộng tới game show “Ai là triệu phú” giúp người đọc như “tỉnh” lại trước chuyện tình giả định ám ảnh ma mị phiêu lãng giăng gió một thời Thăng Long ở hai mục cuối Cổ Nguyệt đườngCố nhân, có phần hoang hoải tựa như Chút thoáng Xuân Hương của Nguyễn Huy Thiệp

Khép lại “Thập nhị nhân duyên” 12 tiểu mục tản văn ẩn dụ tiểu thuyết du ký Hồ Xuân Hương và Tôi là phần Phụ lục với việc chọn lọc ảnh ấn và phiên âm 37 bài thơ chữ Nôm Hồ Xuân Hương. Đến với miền đất tâm linh, thơ Hồ Xuân Hương cũng được thử thách, lựa chọn, xét tuyển, tinh tuyển, chuyển hóa nhiều hơn ở miền nhân tính tâm linh, đồng dạng cùng những truyền thuyết thánh Chử Đồng Tử (thế kỷ III – IV trước CN), hay là Ruồi Trâu của Ethel Lilian Voynich (1864-1960), hay là Tiếng chim hót trong bụi mận gai của Colleen McCullough (1937-2015), hay là Niết bàn bốc cháy của Ðoàn Lê (1943-2017)… Cần nói thêm, tất cả họ đều là phụ nữ…

Hà Nội, 23-01-2025

Nhà báo, nhà phê bình văn học Nguyễn Hữu Sơn

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư “ly” kiêm thủ “hoán”,

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

Bản dịch:

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần. 

Qua bài thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình hòa quyện cùng nhịp sống lao động sôi động và những chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Mở đầu, bức tranh bến sông hiện lên đầy tĩnh lặng và nên thơ: “Gió im sóng lặng dạo bên sông / Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng”. Không gian khoáng đạt với gió êm sóng lặng tạo nên nền tảng hoàn hảo cho ánh nhìn quan sát. Từ điểm nhìn ấy, những chiếc thuyền chài hiện lên nối đuôi nhau giăng hàng trên mặt nước, tạo nên đường nét hài hòa, đậm chất hội họa, mở ra một khung cảnh yên ả và tràn đầy sức sống của vùng sông nước.

Sự chuyển động của con người thổi bùng lên sinh khí cho bức tranh bến đá: “Tay kiếm hang rồng sông mở lối / Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng”. Tuy chỉ là hoạt động đánh bắt cá, nhưng qua ngòi bút phóng khoáng của nữ sĩ, hành động ấy đã được nâng lên thành tầm vóc tráng lệ, hào hùng. Cùng với đó là nhịp sống thương mại đời thường tấp nập, ấm áp tình người: “Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối / Ông lái gõ chèo chén rượu nâng”. Tất cả đan cài uyển chuyển giữa những cảnh lao động dung dị, gần gũi của đời thường, khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ chiêm nghiệm sâu sắc: “Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán / Thánh nhân định vật, ý người trần”. Việc mượn các quẻ trong Kinh Dịch (quẻ Ly và quẻ Hoán) thể hiện sự thấu hiểu quy luật biến dịch khôn lường của tự nhiên và vũ trụ. Triết lý của thánh nhân trong việc mở mang vạn vật luôn hòa hợp với lòng người và nhịp sống tự nhiên. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự thấu triệt quy luật cuộc đời, tìm thấy sự an nhiên, thuận theo tự nhiên trong từng khoảnh khắc tồn tại.

“Thạch Phố Quan Ngư” là một hành trình thị giác và tâm hồn đưa người đọc hòa mình vào bức tranh thiên nhiên, đời sống và vũ trụ bao la. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc ngắm cảnh đánh cá bên bến đá và từ đó mở ra những tầng sâu triết lý về nhân sinh, nhắc nhở con người về sự hòa hợp giữa ta với đất trời, vũ trụ.

Thanh Ngân

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,
Phá kệ tàn bi yểm lục đài,
An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Bản dịch:

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh đá có duyên dời viên khác,
Chuông không giá móc vất bên đài,
Ngói tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư không một tối dựng lâu đài.

Bài thơ khắc họa sự hoang tàn, tiêu điều của chốn thiền môn qua lăng kính hoài cổ, đồng thời gửi gắm khát vọng hướng về sự tái thiết và những giá trị tâm linh vĩnh hằng.

Mở đầu, bức tranh chùa Khánh Minh hiện lên với vẻ vắng lặng, đìu hiu đến nao lòng: “Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại / Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy”. Không gian thiêng liêng xưa nay chìm trong phế tích, cỏ dại phủ lấp khắp nơi. Những vật dụng gắn liền với chốn tu hành giờ đây rơi vào cảnh lưu lạc, bơ vơ: “Khánh đá có duyên dời viên khác / Chuông không giá móc vất bên đài”. Sự tản mát của khánh, của chuông càng làm nổi bật sự trống trải, lạnh lẽo của một thời vang bóng nay đã chìm vào quên lãng.

Nỗi buồn hoài cổ thêm thấm đượm qua những hình ảnh chạm đến sự đổ nát tận cùng: “Ngói tan, xà mục chim làm tổ / Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi”. Mái ngói vỡ nát, xà nhà mục ruỗng giờ đây chỉ còn là chốn cho chim chóc lui tới làm tổ; bệ thờ, bia đá ngàn năm cũng bị lớp rêu phong vùi lấp. Cảnh tượng ấy gợi lên sự ngậm ngùi khôn nguôi trước quy luật vô thường của thời gian, khi những công trình vĩ đại hay chốn phật đường trang nghiêm cũng không thắng nổi sự bào mòn của thời gian.

Kết lại bài thơ, tác giả bất ngờ đẩy cảm xúc lên bằng một khát vọng lớn lao, đầy tính triết lý và mộng tưởng: “Giá được ngàn tay như Phật Tổ / Hư không một tối dựng lâu đài”. Giữa cõi điêu tàn, nhà thơ khao khát có được quyền năng của Phật nghìn mắt nghìn tay để xây dựng lại chốn thiền môn chỉ trong một đêm. Đó là mong ước phục dựng một ngôi chùa, còn là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, sự thiết tha gìn giữ những giá trị đạo đức, tâm linh cao đẹp trước sự tàn phá của thời gian.

“Bộ Khánh Minh Tự Cảm Hứng” là một khúc ca hoài cổ đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Bài thơ đưa người đọc chạm đến những khoảng lặng của tâm hồn, để từ đó thêm trân trọng những giá trị văn hóa, tâm linh và biết sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc của hiện tại.

Thanh Ngân

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Bản dịch:

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và đầy sức sống trên vùng sông nước Hoa Phong qua góc nhìn phóng khoáng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Mở đầu, hành trình qua vũng Hoa Phong hiện lên thật nhẹ nhàng, thư thái giữa không gian hoang sơ: “Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong / Đá dựng bờ son mọc giữa dòng”. Chiếc thuyền nhỏ với cánh buồm đơn sơ lướt đi thong thả giữa cảnh sắc vách đá dựng đứng và những bờ son vươn lên mạnh mẽ giữa dòng nước. Sự tương phản tinh tế giữa con người nhỏ bé và thiên nhiên đã mở ra một khung cảnh khoáng đạt, đầy ngoạn mục.

Cảnh quan tiếp tục vận động qua sự hòa quyện kỳ diệu giữa núi và nước, cùng nhịp sống của muôn loài: “Dòng nước lần theo chân núi chuyển / Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông”. Dòng nước uốn lượn uyển chuyển theo hình thế núi non, vô cùng nhịp nhàng. Nơi ấy, thiên nhiên còn tràn đầy sinh khí với “Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt / Âu lộ cùng bay bóng xế hồng”. Hơi thu mờ ảo hòa quyện cùng đàn chim âu trắng bay lượn dưới ánh nắng chiều đỏ rực, đã vẽ nên một bức tranh vừa huyền ảo, vừa ấm áp.

Kết lại bài thơ, Hồ Xuân Hương mở ra một không gian tưởng tượng huyền thoại đầy mê hoặc: “Băm sáu phòng mây cùng động ngọc / Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?”. Đứng trước vô số hang động kỳ vĩ và những phòng mây ẩn hiện, nữ sĩ ngỡ ngàng tự hỏi không biết đâu mới thực sự là cung điện Thủy Tinh lộng lẫy. Câu hỏi tu từ cuối bài là sự thán phục trước vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa, cũng bộc lộ tâm hồn bay bổng, lãng mạn của người lữ khách khi lạc bước vào cõi tiên.

“Độ Hoa Phong” như bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, đưa người đọc đắm chìm vào cõi thiên nhiên giao hòa, kỳ vĩ. Bài thơ ghi lại dấu ấn của một chuyến hành trình qua vùng sông nước và đánh thức tình yêu thiên nhiên, để lại dư âm bồi hồi mãi trong lòng người thưởng thức.

Thanh Ngân

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc bất ngõa từ giai bất thế,
Nham như tường bích thạch như diên,
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

Bản dịch:

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách như tường lát, đá như sườn.
Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,
Ong mật dâng hoa trước án hương.
Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên tĩnh mịch, hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh vật hoang sơ và tâm hồn thiền định thanh tịnh.

Mở đầu, không gian ngôi chùa cốc hiện lên đầy nguyên sơ, cổ kính và huyền bí: “Thần bào quỷ đẽo tự bao niên / Hình thể an bài sẵn tự nhiên”. Ngôi chùa ẩn mình trong hang đá, tựa như được bàn tay thần quỷ đẽo gọt qua muôn năm, mọi sự sắp đặt đều thuận theo tự nhiên, vượt lên trên dòng chảy của thời gian. Nét mộc mạc ấy càng được tô đậm qua hình ảnh kiến trúc đơn sơ: “Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát / Vách như tường lát, đá như sườn”. Không hề có dấu vết của nhân thế, tất cả đều hòa vào đất trời, mang lại cảm giác tĩnh tại, rũ bỏ hoàn toàn bụi trần.

Sự giao cảm kỳ diệu giữa vạn vật và chốn linh thiêng được mở rộng qua những hình ảnh sinh động, đầy tính triết lý thiền môn: “Đàn dơi cúng trái đài sen quý / Ong mật dâng hoa trước án hương”. Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, mang cả quả ngon, hoa thắm đến cúng dường trước án Phật. Chốn thiền môn lúc này không còn khoảng cách giữa con người và muông thú, giữa thực tại và cõi thiêng, tất cả đều chìm đắm trong sự hòa hợp, tôn nghiêm và thanh tịnh vô biên.

Kết lại bài thơ là khoảnh khắc thức tỉnh đầy vi diệu và sâu lắng: “Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót / Sư già chợt tỉnh giấc miên mang”. Những âm thanh của cuộc đời và thiên nhiên hòa quyện: tiếng sóng vỗ, tiếng ca của người tiều phu, tiếng chim chóc hót vang… đã đánh thức vị sư già khỏi giấc thiền định sâu thẳm. Tiếng động ấy là chất xúc tác đánh thức tâm thức, đưa con người trở về với thực tại minh triết, chạm đến cõi giác ngộ.

“Cốc Tự Tham Thiền” là hành trình đưa tâm hồn trở về với bản nguyên thanh tịnh nhất. Đứng trước không gian khoáng đạt và thâm trầm của chùa Cốc, con người như tìm thấy chốn bình yên sâu thẳm trong nội tâm, nơi mọi phiền muộn trôi đi, để lại sự an nhiên, trong từng nhịp sống.

Thanh Ngân

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi,
Thiên quân bảo khí minh lưu thuỷ,
Cửu cấp phù đồ hoá kiếp hôi,
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

Bản dịch:
Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn cân bảo khí reo bên nước,
Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Bài thơ khắc họa sự đối lập sâu sắc giữa hào quang quá khứ và sự tịch liêu của hiện tại.

Mở đầu, cảnh tượng hoang tàn hiện lên: “Cổ tháp di khư loạn thảo đôi / Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi”. Dấu tích của vị vua xưa nay trở thành đống đổ nát, cỏ dại bao phủ. Những giá trị từng được coi là vĩnh cửu như “Thiên quân bảo khí” hay “Cửu cấp phù đồ” giờ đây đều “hoá kiếp hôi”, trở về với cát bụi. Hình ảnh này khẳng định uy quyền và vật chất hữu hình hoàn toàn chịu khuất phục trước quy luật tự nhiên, chứng minh sự thịnh suy vốn là lẽ tất yếu của nhân thế.

Sự tương phản giữa tàn tích lịch sử và nhịp sống đời thường tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ: “Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng / Mục nhi khu độc há sơn ôi”. Trong khi di tích vĩ đại sụp đổ, người tiều phu vẫn thản nhiên tựa rìu ngủ trên đá, mục đồng vẫn xua đàn nghé xuống đồi. Cuộc sống đơn sơ, chân chất của con người đại diện cho sự vĩnh cửu. Họ chính là chủ nhân thực sự của ngọn núi, là hiện thân cho sự sống bất diệt, hồn nhiên và an nhiên giữa thiên nhiên tĩnh lặng.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ gửi gắm sự giác ngộ qua câu hỏi: “Đăng cao dục hội sơn tăng giảng / Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi”. Người thi sĩ tìm đến chốn chùa cao, mong cầu lời giảng đạo từ sơn tăng, nhưng chỉ nhận lại âm thanh tiếng chuông ngân vang. Đây chính là câu trả lời trọn vẹn nhất. Tiếng chuông chiều phá vỡ sự trầm mặc, xóa tan mọi thắc mắc về lẽ được mất. Chân lý hiện hữu trong âm thanh vang vọng, trong phút giây thực tại khi lòng người tĩnh lặng.

“Tháp Sơn Hoài Cổ” là hành trình người đọc tìm về cái gốc của tâm. Khi đứng trước sự đổ nát, con người nhận ra giá trị của sự bình yên. Bài thơ trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn rũ bỏ gánh nặng của thời gian, tìm về sự an nhiên giữa vòng quay sinh diệt. Mỗi âm thanh vang lên trong bài thơ đều là tiếng nói của sự thức tỉnh, mời gọi con người sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Thanh Ngân

Truyền văn Phật tích tại Linh San,
Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc tức thị không không thị sắc,
Thiền gia đương tác như thị quan.

Bản dịch:

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc tức thị không, không thị sắc
Thiền gia hiểu thế việc trần gian.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Phật Động Thâm U tựa như một nốt trầm sâu lắng, đưa người đọc rũ bỏ những ồn ào bụi bặm để bước vào hành trình tìm về cõi tịch liêu.

Mở đầu, nữ sĩ đưa ta vào không gian thiền vị bằng lời dẫn đầy tự nhiên: “Truyền văn Phật tích tại Linh San / Cận đắc sơn ông chỉ thử gian”. Nếu “truyền văn” gợi vẻ huyền thoại xa xôi, thì hình ảnh “sơn ông” chỉ lối lại kéo người đọc về với sự gần gũi của miền sơn cước. Người dẫn lối gắn bó cùng núi rừng, để bầu không khí trở nên chân thật. Ở đây, chân lý hiển hiện ngay khi con người tìm về tự nhiên nguyên thủy, lắng nghe sự chỉ dẫn từ những điều bình dị nhất.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục hiện lên qua hình ảnh “cửa động”, “đường cỏ dại” và “dấu rêu mòn”: “Động khẩu thiển thâm hoang thảo kính / Tự ngân nồng đậm ấn đài ban”. Những nét chữ xưa cũ chìm sâu dưới lớp rêu phong chính là hiện thân của tính vô thường. Thời gian khẳng định quyền năng vĩnh hằng khi xóa nhòa dấu tích hữu hình của thánh nhân, nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc của thiên nhiên. Sự phai nhạt của văn tự chính là lúc đạo hiển lộ, đưa lẽ thật của đời sống hòa quyện trọn vẹn vào cảnh vật.

Nhịp điệu bài thơ dần chậm lại, đi sâu vào sự chiêm nghiệm: “Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại / Cấp thủy biên khê tỉnh bất can”. Hình ảnh chiếc cầu soi bóng ngoài hồ và cái giếng bên khe nước là biểu tượng cho sự bất biến giữa dòng đời biến động. Dẫu vật đổi sao dời, dẫu đèn thả ngoài hồ tàn đi, sự thanh tịnh trong tâm thức vẫn vẹn nguyên, tràn đầy sức sống. Đó chính là sự tương thông giữa cái hữu hạn của ngoại cảnh và cái vô hạn của nội tâm: khi tâm an, thế giới xoay vần vẫn giữ được sự trong trẻo, tinh khôi của dòng suối trí tuệ đang luân chuyển trong mỗi người.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không thị sắc / Thiền gia đương tác như thị quan”. “Sắc” và “Không” lúc này trở thành hơi thở của vạn vật. Thiền gia tìm thấy Phật ngay trong sự chuyển hóa không ngừng của cái hữu hình và cái vô hình. Đó là thái độ sống thấu suốt sự đời hư ảo để đạt tới sự bình thản tuyệt đối. Khi buông bỏ sự bám víu vào “sắc” hay “không”, con người sẽ chạm đến cõi an nhiên, tự tại.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biến không gian hang động u tịch thành thánh đường tâm thức, nơi mọi vọng niệm được thanh tẩy bởi sự tĩnh lặng của Linh Sơn. Qua cái nhìn đầy tuệ giác, ta nhận ra Phật hiện hữu trong chính hơi thở nhẹ nhàng của cỏ cây, khe suối, và trong sự thức tỉnh của lòng người giữa cõi thế. Để mỗi cá nhân có thể tự tìm được cho riêng mình một “Phật động” thanh tịnh, nơi bản ngã an yên, hòa nhập vào vũ trụ bao la.

Thanh Ngân

Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739-1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Tổng biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 255 Thể loại: Truyện ký In

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 238 Thể loại: Tản văn In và

THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày mùa hoa văn chương đầu tiên của Nguyễn Thị Thiếu Anh lụi tàn. Cô nữ

Lịch sử không dành cho đôi vợ chồng trẻ quá nhiều thời gian bình yên. Chỉ vài năm sau, Cách mạng tháng Tám bùng nổ,

Trong màn họa thơ với chàng “Vô danh” ở phần trước, Nguyễn Thị Thiếu Anh từng kiêu hãnh tuyên bố: “Thiếu Anh”? Ta thiếu anh