“Nhà. Đằng kia có một ngôi nhà.” Cối vừa nhủ thầm, vừa dụi mắt để nhìn cho rõ. Trước mắt y, giữa những thân cây cành lá um tùm, một mái nhà tranh thấp thoáng hiện ra. Lòng như mở cờ, Cối hồ hởi dùng gậy gạt phăng đám cỏ cây cản lối, sầm sập bước tới.
Thường ngày, Cối chẳng dám lay động dù chỉ một ngọn cỏ. Làm thế thì “rượu thịt” của y có mà sủi mất tăm. Kể từ khi bị đánh bại bởi một pháp sư cao tay hơn, Cối vẫn trốn chui trốn nhủi trong rừng. Đầu óc y lúc nào cũng xoay vần giữa hai thứ: kiếm mồi, nhóm lửa. Lúc còn bảo bối trong tay, Cối chẳng cần phải mó máy tới cả cái mép lồng bàn. Giờ, bảo bối của y đã bị địch thủ hóa ra tro tàn. Cho nên y phải lùng sục từng bụi cỏ để kiếm miếng ăn. Thỏ, chuột, ếch nhái, dế, cào cào,… thường là những món được nướng chín, rồi nằm gọn trong lòng gã pháp sư thất thế. Cối lúc nào cũng nhóm lửa, nấu nướng cẩn thận. Dẫu sao, chuyện ăn bờ ngủ bụi cũng chẳng mấy lạ lẫm với y.
Cối không chết đói. Nhưng y lúc nào cũng thèm thuồng. Bụng y không ngừng nhung nhớ những hạt cơm mềm dẻo, đến khi chạm đáy ruột vẫn còn ấm áp. Cổ họng y chỉ khao khát một ngụm nước rau thanh dịu, sau vô khối lần ngứa ngáy vì phải tống vào vỏ, đùi, cánh côn trùng. Thỉnh thoảng, y lại tếu táo ví miệng y với chiếc nón rách y dùng để xin ăn hồi xưa: cả hai đều chực chờ đong đầy một thứ gì đó, cái ngày xưa thì mưa vàng, suối bạc, cái bây giờ thì giọt mắm, thìa tương.
“Có ai ở nhà không đấy?” Cối dõng dạc lên tiếng. Y đứng bên ngoài hàng rào trong bộ quần áo phai bợt hai vai, ống áo, ống quần rách mướp. Đầu tóc y rũ rượi, dở búi, dở buông, trong khi râu ria rậm như chổi xể. Và y tới hòng kiếm một bữa cơm đàng hoàng. Những người giàu lòng tự trọng có thể ái ngại thay cho y. Nhưng Cối thấy chẳng đáng gì. Bởi cách đây không lâu, y đã phải quỳ mọp dưới chân kẻ khác. Trong sự bất lực, tủi nhục của một kẻ từng đùa bỡn với mạng người nay chẳng khác gì cá nằm trên thớt, y khẩn khoản lạy lục – làm như kẻ kia là thánh thần, thiên địa – đứng lấy mạng y.
“Ai đấy?” Một giọng nói hơi khàn, nhưng trầm ấm vang lên từ phía sau bốn bức tường phên nứa.
Cối mừng húm. Y chắc mẩm người trong kia là một ông cụ. Mái nhà tranh kia chỉ có một gian, mỗi bề rộng chưa tới mười bước chân. Khoảng sân phía trước áng chừng cũng chỉ rộng hơn nền nhà một chút. Toàn bộ khuôn viên nằm trong bốn dãy hàng rào tre xiên ô quả trám, cao chưa tới bụng người. Có lẽ chủ nhà chỉ sống một mình. Và hầu như mọi người già neo đơn mà Cối đã gặp đều không tiếc một ít cơm canh cho những kẻ ăn mày.
“Tôi đến xin cơm.” Cối đáp rõ rành.
Phía ngôi nhà, tấm liếp che cửa được dựng lên bằng gậy chống. Từ bên trong, bước ra một ông lão râu tóc bạc trắng. Gót chân Cối bất giác nhích lùi. Gương mặt hau háu chờ cơm của y bỗng chốc nghệt ra. Người trong nhà kia có bộ râu dài tới kín cổ, mái tóc được buộc thành búi tròn sau đầu. Gương mặt ông gầy hom hem, da dẻ tuy đã nhăn nhúm, sạm màu, nhưng đường nét vẫn còn vuông vắn, thanh thoát. Bộ quần áo xắn cao bốn ống để lộ đôi cẳng chân, cẳng tay mảnh khảnh. Tuy vậy, ông cụ đi đứng trông vẫn vững vàng, dứt khoát.
“Thầy. Đúng là thầy rồi.” Cối thấy trong đầu như có giọng nói réo lên một lời khẳng định.
Cối hít thật sâu để lồng ngực không bị bóp nghẹt. Ông lão hiện diện dưới mái tranh kia chính là người thầy đã dạy y bùa phép năm xưa. Học trò của ông nay đã gây ra biết bao tội lỗi, rồi bị người đời ra tay trừng trị, đến nỗi phải vào rừng sống như dã thú. Thầy đã biết chưa? Thầy sẽ nghĩ gì? Nghĩ tới đó, Cối chẳng còn thèm muốn cơm canh gì nữa.
Trong một khắc ngắn ngủi, Cối thấy cặp lông mày bạc của người bên trong hơi gồ lên. Y tập tễnh bước lùi, xoay người toan bỏ chạy.
“Ấy, anh đi đâu thế?” Ông lão vừa nói vừa giơ tay vẫy nhẹ. “Cơm tôi nấu vừa chín tới, có đủ phần cho anh đấy.”
Nghe tới cơm, Cối lại tìm cách tự trấn an. Y tự nhủ có lẽ thầy đã già, mắt không còn tinh, lại thêm hình hài y đã khác xưa nhiều, nên thầy không nhận ra. Vả lại, nếu thầy nhận ra trò cũ thì đã gọi tên, chứ không xưng hô chung chung như thế. Hương vị một bát cơm nóng thơm ngon trở lại. Cối đứng lại, gắng cất giọng đều đều:
“Xin cụ. Cho tôi nắm cơm. Tôi lấy rồi sẽ đi ngay.”
Ông lão bước ra cổng, không nhìn người bên ngoài thêm lần nào nữa. Cánh cổng làm từ nan tre mở ra, cùng lúc giọng nói trầm ấm bên trong cất lên:
“Từ đây đi cả tám hướng đều là rừng cây. Anh cứ vào nhà ngồi ăn uống cho đàng hoàng.”
Nói rồi, ông cụ quay lưng đi vào. Cánh cổng vẫn để mở. Cối đứng ngần ngừ một lúc. Y thắc mắc tại sao thầy sống một mình ở nơi vắng vẻ như vậy, nay gặp một người đột nhiên tới gọi cửa, mà không hỏi khách là ai, từ đâu tới. Cối đảo mắt nhìn lại bản thân từ đầu đến chân rồi gượng cười. Có gì lạ chứ? Hồi y chìa nón, chống gậy khắp nơi, làm gì có ai hỏi y tên gì, quê quán ở đâu. Nghĩ rồi, Cối vững bước tiến vào. Ông cụ chẳng nhìn ra sân lần nào, nhưng dường như vẫn biết khách đã vào trong. Từ trong nhà, ông vừa nói lớn vừa ho khù khụ, chỉ cho Cối chỗ lấy nước rửa chân tay, mặt mũi.
Vừa bước qua ngưỡng cửa, Cối tức thì đứng sững, nhưng cũng suýt bật cười. Góc trái gian nhà có một chiếc bếp củi. Gần đó, có một cái chõng tre bày mấy chiếc hũ sành. Cối nhận ra một trong những chiếc hũ ấy. Nó chỉ to đủ để cầm vừa lòng bàn tay, nắp bịt một miếng vải màu đỏ thắm nay đã bạc màu, trên thân đề một chữ “Giòn” to tướng bằng mực tàu. Ngày xưa, thầy của y lúc nào cũng xách theo chiếc hũ ấy. Trong hũ đựng cà muối tỏi ớt – món khoái khẩu của cả hai thầy trò. Đã ba mươi năm trôi qua kể từ ngày thầy trò ly biệt. Cối không ngờ chữ “Giòn” ấy vẫn ở bên thầy đến tận hôm nay.
“Tôi xới cơm rồi. Anh ngồi đi.” Ông lão từ tốn nói.
Đối diện với chiếc chõng bày hũ cà Giòn, ở góc phải căn nhà, có một chiếc giường tre. Trên giường bày một chiếc mẹt nhỏ, bên trong có ba chiếc bát lớn: một vàng xuộm màu lạc rang giòn, một xanh mướt màu rau lang luộc tái, một óng ánh nước luộc rau trong vắt. Ông lão khi ấy đang ngồi trên một chiếc ghế đẩu cạnh giường. Cối vâng dạ, rồi cả chủ và khách cùng ngồi vào mâm.
“Mời cụ.”
Cối đáp, rồi gắp một nùi rau đưa cả vào miệng. Hai hàm răng y nghiến chặt. Hương vị tươi mát tức thì phả ra. Cối thấy đó chẳng phải vị của rau xanh, mà là vị của trời, của mây, của gió. Cối nhai nuốt thật chậm rãi, để miếng rau mềm như lụa từng chút thoa lên thực quản.
Ông lão mỉm cười và hỏi:
“Cơm có hợp khẩu vị của anh không?”
“Ngon lắm cụ ạ.” Cối vừa nói vừa ăn lấy ăn để.
Ông lão gật gù, nói tiếp:
“Tôi còn món cà muối ngon lắm. Nhưng anh có lẽ đã nhịn đói lâu ngày, ăn món ấy e là cồn ruột. Lát nữa, ăn no xong, nếu anh thích, tôi sẽ cho anh hũ cà ấy mang đi mà ăn đường.”
Cối ngừng nhai. Y nuốt chửng miếng cơm để nói cho rõ ràng:
“Con xin cụ.”
Đôi đũa trong tay ông cụ cũng ngừng lại. Ánh mắt ông dịu dàng, nhưng nghiêm cẩn hướng vào người đối diện. Ông nói:
“Món cà ấy tôi muối hơi cay. Anh nhớ đừng ăn vã lúc đói bụng đấy.”
“D… Da… Dạ”
Cối chẳng thể thốt lên một từ rõ ràng vì cổ họng bỗng dưng nghẹn lại. Khoảnh khắc này, y không còn thấy bản thân là gã người rừng đang thèm một bát cơm trắng, hay một kẻ mang nợ máu đang khiếp hãi đòn báo oán của nhân gian. Y chỉ thấy từ trong tâm khảm, hiện ra hình hài một đứa trẻ cầu bơ cầu bất, may mắn được cưu mang, dạy dỗ bởi một vị pháp sư hiền từ.
“Thầy… Con đây… Con là Cối đây…” Cối nghẹn ngào nói. Mọi ý niệm dè chừng của y lúc này rạn vỡ. Nước mắt y ứa ra. Y hạ bát cơm xuống mà ôm mặt khóc.
Ông lão mím chặt đôi môi và khẽ gật gù. Sau khi nuốt một miếng ực nghe rõ rành rành, ông nhẹ nhàng nói:
“Thầy biết. Thầy biết mà.”
“Con xấu hổ quá.” Cối gắng nén xuống những tiếng sụt sùi để thốt lên.
“Thôi, những chuyện khác để sau.” Ông lão vừa nói vừa dùng thìa khua bát lạc rang lạo xạo. “Giờ, thầy trò mình ăn cho xong bữa đã.”
“Dạ.” Cối đáp. Y quệt ngang nước mắt rồi gắp lia lịa, nhai ngấu nghiến. Bao nhiêu ký ức từ những năm nao bỗng nhiên lũ lượt ùa về.
Ngày ấy, Cối mới lên tám tuổi. Làng của y bị một trận lũ quét qua. Hầu hết dân làng, cả cha mẹ Cối, đã không qua khỏi. Những người còn sống phải lang thang tứ xứ tìm chỗ nương thân. Cối đi ăn mày. Y chỉ có duy nhất một chiếc gậy trúc làm bạn đồng hành.
Một hôm, Cối ngủ trưa dưới một tán cây to, mà không biết đó là sân chơi của một nhóm trẻ con. Đám trẻ thấy có người chiếm mất chỗ chơi liền bày trò quậy quá, vừa để trả đũa, vừa để giải khuây. Cối sực tỉnh khi nón và gậy bị giật khỏi người. Đám trẻ chia làm hai phe, mỗi phe giữ một thứ, chia làm hai ngả, vừa chạy vừa cười như nắc nẻ. Cối vùng dậy, ra sức gào thét:
“Trả đây! Trả lại đây!”
Cối mất nón là mất cái hứng của bố thí. Song, y lại đuổi theo cây gậy trước tiên. Vì không có gậy, y mất vũ khí để đuổi chó dữ, mất dũng khí rẽ vào những con hẻm lạ, mất luôn cả cái cảm giác yên tâm mỗi khi ngả lưng ở bãi tha ma.
Cối cứ chạy một đoạn lại dừng để thở, và để bớt hoa mắt. Đã hai ngày trời, y mới chỉ được ăn một nắm cơm nhỏ bằng hai ngón tay. Trái lại, mấy đứa trẻ có cha mẹ chăm lo đủ cơm đủ bữa kia thì thoăn thoắt như chuột nhắt. Và chúng chẳng hào hứng được lâu khi đùa giỡn với một đối thủ không cân sức. Đám trẻ thôi chạy. Một đứa giơ cây gậy lên, huơ huơ trên đầu, miệng nói không đùa nữa, bảo Cối đến mà lấy. Cối sấp ngửa hùng hục chạy tới. Bất thình lình, thằng nhóc kia ném phăng cây gậy xuống một cái ao gần đó.
“Đừng!” Cối rú lên.
Đám trẻ nhất loạt cười khanh khách rồi kéo đi chỗ khác. Cối nhìn cây gậy trôi nổi trên mặt nước, miệng méo xệch, hai mắt ầng ậc nước. Y khóc rưng rức, không chỉ bởi uất ức do bị bắt nạt, mà còn bởi nỗi đau xót do bị gợi nhớ lại thảm kịch vừa giáng xuống cuộc đời y. Cha mẹ Cối khi tử nạn chỉ còn là những hình hài lặng thinh, mặc cho sóng nước tha hồ xô đẩy. Cây gậy trúc dưới ao kia sao mà giống y hệt. Cối đã bất lực nhìn cha mẹ ra đi, ngậm ngùi chấp nhận bản thân chẳng làm được gì trước con nước dữ. Nhưng, lần này, y quyết phải giành lại vật bất ly thân cho bằng được.
Vừa khóc, Cối vừa tìm cách trèo xuống ao. Chẳng may, y trượt chân, rơi ùm xuống nước. Cối chới với ngụp lặn. Nước cứ thế tràn vào mũi, vào miệng y. Những tưởng sắp bị hóa kiếp thành cá, Cối chợt thấy toàn thân trồi lên. Một cái thúng chẳng biết từ đâu hiện ra đang hứng lấy y. Thế rồi, cả người và thúng cùng trôi băng băng về bờ.
Cối đỗ lại dưới chân một người đàn ông, chính là thầy của y – ngày ấy râu tóc vẫn còn đen thẫm. Thầy hỏi vì sao Cối ngã xuống ao. Cối kể lại đầu đuôi sự tình. Thầy liền niệm chú, thả một sợi dây thừng xuống ao. Một cách thần kỳ, sợi dây uốn lượn như thân rắn, họa lên mặt nước những vân sóng uốn cong mềm mại, chẳng mấy chốc đã mang được cây gậy về bờ. Cối nói vẫn còn một chiếc nón phải đi tìm. Thầy lại tiếp tục giúp y. Đám trẻ kia đã quẳng chiếc nón vào sân một nhà có chó dữ. Nhà ấy đi vắng hết nên chẳng có ai mở cổng. Thầy dùng bùa phép làm con chó lăn ra ngủ, rồi điều khiển sợi dây thừng lấy chiếc nón ra ngoài. Thấy Cối khổ quá, thầy nhận y làm học trò và dạy y phép thuật. Cối biết sở thích của thầy, nên thường dẫn thầy tới những quán ăn có bán cà muối. Những nơi như vậy, y ngày nào cũng đến xin cơm thừa, nên rất rành. Bài học đầu tiên mà thầy dạy Cối chẳng phải bùa phép nào, mà là không nên ăn cà muối khi bụng đói lâu ngày.
Khi cả chủ và khách đều đã buông đũa, ông lão lấy một tấm vải đậy lên mâm cơm, rồi lầm rầm niệm chú. Tấm vải mở ra, mâm cơm ngổn ngang bát đũa biến mất, nhường chỗ cho khay ấm chén gọn gàng, tươm tất hiện ra. Cối nhanh nhảu rót nước cho thầy. Ông lão mỉm cười, gật đầu, nhưng gương mặt trong thoáng chốc đã đổi thành nét ưu tư.
“Con đã chọc trời, khuấy nước suốt năm suốt tháng,” ông lão nói, “rồi gần đây mới gặp chuyện bất trắc phải không?”
Cối tròn mắt nhìn thầy. Y lắp bắp đáp:
“Dạ… đúng, thưa thầy… Thầy đã biết hết rồi sao?”
Ông lão khẽ lắc đầu, trả lời:
“Không, ta chỉ đoán được sơ sơ thôi. Con xuất hiện ở đây vẫn trong bộ dạng bơ phờ, bụi bặm như xưa, nhưng phong thái lại ngang tàng, bạo dạn, giọng điệu lúc xin cơm cũng thẳng thừng, không chút e ngại, so với trước đây thật khác xa một trời một vực. Nếu không phải kẻ từng tung hoành khắp chốn, có lẽ con đã không có cái cốt cách ấy. Hay nếu đã sống kiếp sa cơ lâu ngày, thì cái thần ấy cũng chẳng được vẹn nguyên thế này.”
“Thầy… đúng là liệu việc như thần.” Cối nói khi mặt cúi gằm xuống, hai mắt đăm đăm nhìn vào làn nước xanh tươi nơi miệng chén.
Ông lão chợt nhớ. Hồi xưa, học trò của ông lúc nào cũng nắm khư khư một cây gậy trúc. Ông đã ếm vào cây gậy ấy mười tám loại bùa phép để y luyện tập dần. Giờ, cây gậy ấy không còn ở bên chủ nữa. Ông lão hỏi Cối bảo bối đâu. Y ngập ngừng một lúc, sau đó mới thú thực số phận của món bảo vật. Thầy của y khẽ thở dài. Ông nhẹ nhàng rót thêm trà vào chén của y, sau đó hỏi vì sao y và người kia quyết chiến với nhau, và xa hơn nữa, y bấy lâu nay sống ra sao, đi đâu, làm gì. Cối len lén nhìn lên mắt thầy. Y rất sợ thứ mà bản thân gặp phải là một cái nhìn lạnh lẽo, sẵn sàng chiếu rọi đến những góc tối tăm nhất trong tâm hồn y. Nhưng, không. Cối chỉ thấy ở đó một cặp mắt ái ngại, xen lẫn một chút băn khoăn, giống như cặp mắt đã nhìn bộ dạng ướt như chuột lột của y lúc được vớt từ dưới ao lên. Cối tự nhủ: thầy đã sẵn lòng lắng nghe, thì bản thân cũng nên thú thực cho phải đạo.
Ngày ấy, thầy và trò nói lời từ biệt sau khi cùng thưởng vị cà muối cay hết sáu cái Tết. Thầy vẫn còn những đạo hạnh chưa tròn. Trò cũng chẳng thể nương cậy thầy mãi. Trước đó, hai thầy trò trồng một vườn cà để ăn, và để bán. Thầy đi rồi, Cối không khéo chuyện vườn tược, nên ra chợ biểu diễn bùa phép kiếm tiền.
Công lao của thầy, Cối không bao giờ quên. Y trước kia phải lang thang khắp mọi xó xỉnh, khổ sở van nài, xin xỏ mới kiếm được đồng bạc lẻ, hoặc ít cơm thừa canh cặn. Đó là còn chưa kể việc bị xua đuổi, chửi mắng, đánh đập. Còn bây giờ, y chỉ đứng yên một chỗ phô diễn tài nghệ, người ta tự đến vây quanh y, mang theo tiền, hoa, quà bánh, cùng những lời tâng bốc nồng nhiệt.
Dẫu có tiền để ăn uống thả cửa, Cối vẫn chỉ ăn cơm với rau và cà muối. Các quán cơm thường không lấy tiền của y. Vì sự hiện diện của y lúc nào cũng lôi kéo khách khứa khắp nơi tới chè chén. Cuộc sống cứ thế bình lặng trôi đi. Rỗi bỗng một ngày, có một người đàn ông tướng tá cao sang, đạo mạo xuất hiện. Người này đến từ huyện kế bên. Ông ta nói quý mến tài năng của Cối, ngỏ ý muốn nhận y làm con nuôi. Cối phấn khởi chấp nhận ngay tức thì. Có một điều y vẫn canh cánh trong lòng, nhưng chẳng tìm được ai để thổ lộ. Ấy là y hằng ngày dầm mình giữa chốn xôn xao không phải vì sinh kế, mà chỉ muốn hòa mình vào bầu không khí tấp nập của dòng đời, hòng quên đi việc bản thân lại cô độc như xưa.
Cha nuôi của Cối là một thương nhân. Ông có quán rượu, nhà trọ, gánh hát, kỹ viện,… ở khắp huyện, cái nào cũng đông khách nườm nượp. Cối vẫn nhớ. Y chỉ mất một buổi sáng để đi hết một ngôi làng. Thế mà cùng buổi sáng ấy, y lại chẳng đi hết khuôn viên nhà cha nuôi. Cha nuôi xây hẳn cho Cối một gian nhà riêng. Gian giữa rộng hơn khoảng sân của mọi ngôi nhà mà Cối từng ghé. Gian phải là phòng ngủ, không chỉ có giường nằm tử tế, mà còn có đủ hòm, tủ, giá, kệ, để Cối tùy ý bày biện, cất trữ. Gian bên trái là bếp, nơi những người hầu sẽ nấu nướng hàng ngày. Trên kệ bếp lúc nào cũng có ba hũ cà muối đầy ắp. Ở nhà mới, Cối chẳng phải làm gì cực khổ ngoài việc ngày đêm tôi rèn pháp lực.
Nhưng, cha nuôi thu nạp người tài như Cối chẳng phải chỉ để vui cửa vui nhà. Một hôm, y được cha nuôi giao nhiệm vụ trừ khử một người. Đó là một thương nhân đang ngấm ngầm tranh giành đối tác làm ăn với ông ta. Người này thường đến kỹ viện của cha nuôi để hưởng lạc. Cối phải ra tay khi ông ta đang ngủ say.
Đó là một việc làm vô đạo. Cối biết. Nhưng, cha nuôi đã đối đãi với y quá ư nồng hậu. Sẽ chẳng phải đạo nếu y từ chối. Đêm ấy, Cối đã khóc rất nhiều. Bùa phép của y được thi triển trái với chân tâm, nên mãi không phát huy hết tác dụng. Nạn nhân của y vì thế, không bỏ mạng ngay tức thì, mà bị nạo vét sinh khí trong sự thống khổ. Người đàn ông kia khi bước vào thì quần nhung, áo gấm, còn bấy giờ trần truồng như lợn chờ cạo lông. Nhận ra bản thân đã rơi vào miệng cọp, ông ta nép mình vào góc tường, mếu máo van nài hòng giữ mạng. Cái vẻ co ro, cúm rúm ấy, Cối hiểu. Nó thảm hại và đáng thương như chính bản thân y ngày trước. Nhưng, Cối không thể dừng tay. Việc bất thành, cha nuôi của y tất gặp tai họa. Cối vừa khóc vừa bồi thêm pháp lực. Nước mắt y tuôn rơi lã chã bên những mảng đỏ chảy tràn trên nền nhà.
Sau đêm ấy, Cối ăn không ngon, ngủ không yên. Y lang thang khắp trang viên, quần áo xộc xệch, mặt đỏ gay, tóc tai phờ phạc. Ngoài cây gậy phép, y còn kè kè bên một vò rượu. Thỉnh thoảng, y lại ngủ rũ trên một bậc thềm, hay bậu cửa một gian nhà bất kỳ. Cha nuôi bảo kẻ hầu người hạ cứ để y muốn làm gì thì làm. Song, cha nuôi cũng không để người “hữu dụng” như hắn bê tha mãi. Lần này, mục tiêu là một tên tướng cướp võ nghệ cao cường, chuyên thu phí trị an ở bến sông. Cha nuôi, cũng như bất kỳ ai muốn làm ăn yên ổn, đều phải nộp tiền cho hắn. Cối không từ chối. Đằng nào tay hắn cũng đã nhúng chàm.
Đêm hành sự, Cối ở trong chỗ nấp thấy ruột gan như lửa đốt. Mấy lần, y suýt không thể nhẫn nại, muốn nhảy bổ ra mà giáng gậy lên đầu mục tiêu. Tên tướng cướp kia được hầu hạ bởi danh kỹ bậc nhất dưới trướng cha nuôi. Hàng ngày, nàng được các thiếu gia, đại gia dâng tặng không biết bao nhiêu ngọc ngà, châu báu, chỉ để nhận về một nụ cười duyên, hay một lời bay bướm. Vậy mà đêm nay, nàng phải bò trườn, kêu rên, liếm láp như một con thú để mua vui cho tên quỷ đội lốt người kia. Khi mọi ham muốn bạo ngược được thỏa thuê, tên tướng cướp lăn kềnh trên giường nhung, ngáy như xẻ gỗ. Còn tình nương của hắn thì nằm bẹp dưới sàn nhà, thân thể ngọc ngà tìm bầm khắp chỗ. Đôi môi sưng vều của nàng mím chặt, để những tiếng thút thít không làm kinh động đến con ác thú đang say ngủ.
Kể cần trừ khử lần này to lớn hơn người, khỏe mạnh hơn người, ghê tởm cũng hơn người. Nhưng, hắn vẫn chẳng là gì so với quyền năng siêu phàm. Cối không nhớ đã dùng những bùa phép gì. Y chỉ nhớ cái xác to kềnh kia đã vùng vẫy như cá mắc cạn. Thân thể lớn như bò mộng của hắn quằn lên, quật xuống làm chiếc giường gỗ lim gãy sập. Và, Cối cảm thấy khoan khoái một cách lạ lùng. Bao nhiêu ám ảnh, dằn vặt bỗng nhiên tiêu tán hết. Xong việc, Cối quên phứt hương vị cay nồng của men rượu. Y tống vào họng một vốc nước lã, thấy đầu óc nhẹ nhõm, gân cốt sảng khoái như vừa thưởng thuốc tiên. Cha nuôi cứ tưởng từ đó trở đi sẽ được Cối toàn tâm phò tá, không vì tình riêng mà xao nhãng nữa. Cối cũng đinh ninh là như thế.
Một ngày nọ, cha nuôi của Cối mở tiệc linh đình khoản đãi một vị khách quý. Nàng danh kỹ kia cũng được sai đến để hầu hạ. Vị khách kia đáng tuổi ông nội nuôi của Cối là ít. Trông thấy mỹ nữ, lão liền xách ống quần, khấp khởi bước tới sờ hoa nắn ngọc. Những vết thương chưa lành vô tình bị chạm tới, khiến nàng kỹ nữ không thể nói cười lả lơi, mà khẽ xuýt xoa, rơm rớm nước mắt. Khách xô ngã nàng, mắng nàng ngu dốt, được hưởng “ơn trên” mà dám tỏ ra bất mãn. Cha nuôi gọi Cối đến. Ông phán nàng là con thú cắn khách, phản chủ, lệnh cho y trừng trị nàng để khách hài lòng.
Cối chết sững trong giây lát. Đối diện với y vẫn là hình hài đã cung ứng cơm ngon, áo đẹp, nhưng thần thái đằng sau đó lại từa tựa như kẻ làm sập giường đêm nọ. Thấy Cối đờ ra, cha nuôi liền sẵng giọng. Vị khách già bĩu môi, than vãn hôm nay xuất dinh đúng ngày xúi quẩy, gặp rặt một đám nửa người nửa ngợm. Nhanh như cắt, Cối niệm thần chú và vung gậy. Bờ môi bĩu cùng toàn bộ những thứ gắn chung với nó bay vút lên không trung. Trần nhà của cha nuôi cao như đỉnh tháp. Vậy mà tiếng va đập giữa người và gỗ vẫn nghe rõ mồn một. Vị khách rơi bịch xuống đất như quả thối lìa cành. Cối nhận về một cái chỉ tay nhọn hoắt, cùng cặp mắt trợn trừng dưới hai hàng lông mày trắng phau. Đôi môi tai tái mấp máy như tiếp tục nói thêm gì đó. Cối lại vung gậy. Trần, sàn nhà lại vang rền hai cú va đập. Lần này, chẳng còn ngón tay nào nhúc nhích nữa.
Cha nuôi rú lên, mắng như tát nước vào mặt Cối. Lời lẽ của ông không còn hai từ “con nuôi” nữa, chỉ còn thằng khố rách áo ôm, đầu đường xó chợ, võ vẽ một ít bùa ma thuật quỷ, được nuôi ăn no, mặc ấm mà dám hại cha hại chủ. Cối lừ mắt nhìn kẻ đối diện. Y chọc đầu gậy vào người ông ta rồi niệm chú. Người cha nuôi khi ấy tóc vẫn đen mượt, da vẫn căng bóng. Nhưng chỉ trong vài khắc, da thịt ông ta chợt teo tóp, nhăn nhúm như tàu lá úa, còn râu tóc thì xám dần rồi bạc trắng. Hai thi thể được gói trong những lớp xiêm y sang trọng nhất ngã đè lên nhau. Kẻ ăn, người ở trong nhà tất thảy kinh hồn, bạt vía. Chẳng phải hôm nay họ mới thấy Cối thi triển bùa phép. Lúc y ra tay, ai nấy đều câm như hến, ngồi im như tượng.
Phần sinh khí cướp được, Cối truyền cả cho nàng kỹ nữ. Mọi đau đớn trên tấm thân kiều diễm tức thì tan biến. Gã cha nuôi chết đi, gia nhân và quyến thuộc của gã bỏ chạy tứ tán. Ai nấy đều hiểu. Nếu ở lại mà chống đối, họ sẽ khó mà toàn mạng. Nhưng nếu không chống đối, họ sẽ bị coi như tòng phạm của kẻ sát nhân. Rốt cuộc, cả dinh cơ rộng lớn chỉ còn lại Cối và nàng danh kỹ. Cối không dùng quyền năng để ép uổng, nhưng cô nàng vẫn ở lại cùng y. Cả hai chung sống, dùng sự hưởng lạc để ngày ngày âu yếm, vỗ về lẫn nhau.
Người nhà của gã cha nuôi đi báo quan, làm binh lính rầm rộ kéo đến. Cối biến bản thân và tình nương thành những cái bóng hư ảo, mắt nhìn không thấy, tay mò chẳng ra. Mười lần quan binh tới tróc nã thì cả mười đều ra về tay trắng. Dẫu vậy, Cối thấy người ngoài đến quấy nhiễu mãi cũng phiền. Đêm xuống, y mò đến tận nhà các vị chức sắc, hoặc là mang đống của bỏ không của chủ cũ mà ban phát, hoặc là mặc sức đánh phá, dọa nạt. Riết rồi chẳng ai dám động đến y nữa. Cối cứ thế sống như vua, chẳng những ở trong dinh thự của cha nuôi, mà còn ở trên bất kỳ đường to, ngõ dài nào trong hàng huyện.
Nhưng quyến thuộc của cha nuôi nào có chịu thua. Mối thù của họ được gửi vào tay một vị pháp sư. Năng lực của Cối nằm gọn trong cây gậy trúc mang mười tám loại bùa phép. Còn người kia thành thạo mọi thuật hô phong hoán vũ, hàng yêu phục ma. Đôi bên giao chiến chưa hết một buổi sáng, Cối đã nằm lăn lóc trên mặt đất. Y suýt nữa đã hóa tro bụi dưới đòn thiên lôi của kẻ địch. Nhưng, tình nương của y đã kịp nhào tới, thay y đền mạng.
Cối rú lên như mãnh thú, gậy giơ quá đầu, hung hãn lao về phía đối thủ. Vị pháp sư kia vung tay, y lại một lần nữa lăn quay ra đất. Thứ quyền phép vừa khiến Cối nằm phủ phục, sau đó được dùng để chữa trị thân xác bị sét đánh. Tình nương của Cối sống lại, da thịt, áo sống đều lành lặn. Ánh mắt nghiêm khắc của vị pháp sư lập tức xoay sang kẻ cầm gậy. Cối biết bản thân đã toàn bại. Y lập tức quỳ lạy, khẩn thiết van xin để được sống. Vị kia tha cho y, nhưng nhất quyết thiêu rụi món bảo bối đã theo y cả đời. Cối chẳng kịp nhìn lại đống tro tàn, một mạch cắm đầu cắm cổ chạy. Y chỉ sợ nếu chạy chậm một bước, những kẻ căm thù y sẽ thình lình hiện ra, tóm lấy y mà tha hồ giày xéo. Cối nhớ tới khu rừng này, nơi thường được cha nuôi dùng để chôn giấu những kẻ bị trừ khử. Và y trốn biệt ở đây từ đó tới giờ.
Cối kể xong, hai mắt tức thì nhìn chăm chăm vào những nếp nhăn quanh khóe mắt thầy. Y bồn chồn tự hỏi: những nếp nhăn ấy có vằn lên như sóng dữ, rồi sau đó những lời chỉ trích sẽ vang lên, và cuối cùng những bùa phép dữ dội sẽ giáng xuống đầu y?
“Từ nay trở đi,” ông lão nhấp một ngụm trà và nói, “con định sẽ làm gì?”
Cối mở to hai mắt. Gương mặt y ngây ra một lúc. Thế rồi, y e dè hỏi:
“Thầy không trách phạt con sao?”
Ông cụ khẽ hất đầu. Ánh mắt ông chiếu vào vai áo đã bạc màu của học trò. Ông nói:
“Con bị phạt rồi đấy thôi.”
Cối nhìn theo ánh mắt của thầy. Miệng y kéo ra một nụ cười méo xệch. Y nghĩ bụng: thầy có phạt y lúc này cũng chỉ bõ lấm tay. Cối vẫn tủi hổ, nhưng không còn căng thẳng nữa. Y điềm tĩnh nói:
“Con đã dùng bùa phép thầy dạy vào việc xấu. Thầy có giận con không?”
Ông nhìn xuống đáy chén trà đã cạn, tay mân mê đáy chén một hồi. Thế rồi, ông cất giọng đượm buồn:
“Ta chỉ buồn chứ không giận. Ta buồn cái cách mà số phận đưa đẩy con. Ngày ấy, khi dạy bùa phép cho con, ta chẳng cầu gì hơn chuyện con có thể coi sóc chính mình. Chưa bao giờ ta kỳ vọng con sẽ trở thành một anh tài kiệt xuất, hay một hiền nhân đức độ nào.”
Y tò mò hỏi:
“Con đã gặp nhiều người làm thầy, làm cha. Ai cũng mong mỏi con em họ sẽ trở thành bậc hiền tài. Thầy thực lòng không kỳ vọng gì ở con sao?”
Ông lão lắc đầu. Chén nước trong bàn tay gầy guộc được nhẹ nhàng đặt xuống. Lời đáp dành cho Cối được cất lên bằng giọng ôn tồn:
“Mọi sự kỳ vọng đều là hão huyền cả thôi. Ai mà lường được số phận sẽ biến hóa ra sao chứ? Ta từng có những huynh đệ đồng môn thân thiết. Lúc thành tài, nhiều người bị số phận đẩy đến những ngã rẽ chẳng ai ngờ được. Có người từng rèn luyện vô cùng bền bỉ, nhưng cuối cùng lại từ bỏ con đường đạo thuật để sống như một người bình phàm. Có người từng rất khiêm nhường, mẫu mực, nhưng khi đạt đến quyền lực tối cao lại thành ra kiêu căng, ích kỷ. Cũng có người tư chất tầm thường, tưởng như sẽ chẳng làm nên cơ đồ gì, nhưng rốt cuộc lại lập được vô số công trạng đáng nể. Bản thân ta cũng không ít lần hụt hẫng trước số phận của chính ta. Ngày ấy, ta muốn kể với con nhiều chuyện lắm. Nhưng, con khi ấy hãy còn nhỏ, ta chỉ e kể ra sẽ làm con mai một tinh thần.”
Cối hơi chúi người về phía trước. Mắt y mở thao láo, hai tai vểnh lên. Ông cụ nhìn về một khoảng không xa xăm, chậm rãi khơi lại chuyện xưa.
Sau khi thành tài, vị pháp sư ngày ấy hăm hở lên đường, chăm chăm tìm kiếm những nơi hiểm ác mà dẹp cho yên. Khắp cõi đời, kẻ gian không thiếu. Chỉ có điều, chúng không ở yên một chỗ chờ người ngay đến chấn chỉnh. Có lần, ông tìm tới nơi thì việc đã xong xuôi. Kẻ cần trừng trị đã bị một người tử tế khác “nẫng tay trên”. Có lần, ông lại hiện diện khi kẻ ác đã giã từ tà đạo, bắt đầu tu tâm dưỡng tâm. Rồi tới một lần, ông bàng hoàng đến mức thay đổi hẳn chí hướng ban đầu.
Có một ngôi làng bị yêu ma càn quấy, rồi được ông cứu giúp. Sau nhiều năm chu du thiên hạ, vị pháp sư muốn về thăm ngôi làng ấy một lần. Ban đầu, ông cứ đinh ninh một khung cảnh thanh bình, nhộn nhịp sẽ hiện ra, người làng sẽ nghênh đón ân nhân, các thức trà nước, quà bánh sẽ được mang ra biếu tặng. Chẳng ai ngờ, ông lại đụng phải khung cảnh tiêu điều, hoang vắng đến ngỡ ngàng. Người làng chẳng biết đã bỏ đi đâu hết. Khắp nơi chỉ còn những mái nhà tranh im ắng, sân bãi bị cỏ dại nuốt chửng. Người vùng lân cận xót xa kể lại: sau khi yêu ma bị diệt trừ, loài ác thú thành tinh lại tìm tới tác quái. Lần này, chẳng còn ai đủ sức giúp đỡ dân làng nữa. Cả làng dắt díu nhau bỏ chạy, để lại ngôi làng hoang vắng tới tận bây giờ.
Vị pháp sư đứng giữa chốn hoang tàn, tự trách bản thân sao thật ấu trĩ. Trước kia, ngoài việc diệt trừ phe ác, đáng lẽ ông nên truyền dạy bùa phép cho những con người yếu thế kia mới phải. Giờ, ông có muốn sửa sai cũng chẳng biết người đâu mà tìm. Chính từ bận ấy, ông ngộ ra một chân lý sắt đá: phải chiến thắng cái ác bằng cách bồi dưỡng cái thiện. Cối chính là hạt mầm mà ông đã chọn để vun đắp bằng chân lý ấy.
Nghe xong, Cối chỉ muốn nhào tới mà ôm chầm lấy thầy. Y chưa bao giờ nghĩ một người khoáng đạt như thầy cũng đau đáu vì nhiều nỗi niềm đến thế. Song, nhìn lại bộ dạng lẫn địa vị của chính mình, y thấy chỉ ngồi yên tại chỗ, dùng hai tay mà nâng niu chén trà thì tốt hơn.
“Con có muốn trả thù không? Có muốn giành lại quyền lực không?” Ông lão hỏi Cối. Ánh mắt ông xoáy sâu vào người đối diện.
Thầy đã thẳng thắn bộc bạch, Cối thấy bản thân cũng chẳng cần che giấu chân tâm nữa. Y lập tức trả lời:
“Thưa thầy, con muốn trả thù. Muốn lấy lại cả quyền lực nữa.” Song, giọng y bỗng ngập ngừng. “Con muốn… nhưng… không sẵn lòng dành tâm huyết cho mục đích ấy…”
Cối uống cạn một chén trà đầy, rồi tiếp tục:
“Trả thù xong, rồi sao? Con không muốn dùng bùa phép để mưu lợi nữa. Có lẽ nào, con nên luyện thêm bùa phép, đề phòng bằng hữu của kẻ kia tới báo oán? Nhưng bao nhiêu bùa phép mới đủ? Hay con sẽ nhận học trò và truyền thụ pháp thuật? Không thể. Con tự thấy bản thân không đủ tư cách để dạy dỗ ai.”
“Có lẽ nhắc lại ân oán, mất mát đã qua sẽ chỉ làm con thêm rối trí.” Ông lão nói. “Hãy nghĩ về sự hoan hỉ, những niềm vui nhỏ nhặt, tầm thường thôi cũng được! Cái gì sẽ làm con vui lòng mỗi ngày, kể từ nay về sau?”
Cối lặng thinh, nghĩ ngợi mông lung. Y nhấp một ngụm trà, hòng mượn vị đắng dìu dịu đánh thức thần trí. Đây rồi, y nghĩ bụng, là chén trà này chăng. Nhưng, liệu chén trà này có làm y vui mỗi ngày, nếu không phải do thầy pha, và không được uống sau một bữa cơm canh tử tế? Cối lại đinh ninh một bữa cơm nóng sốt mới là thứ khiến y mãn nguyện. Y chép miệng, hồi tưởng lại hương vị của bữa cơm vừa rồi. Mâm cơm của thầy tưởng như đã trọn vẹn, nhưng dường như vẫn còn thiếu gì đó. Một ý nghĩ lóe lên trong Cối. Món cà muối. Ban nãy, y thèm lắm mà chưa ăn được. Trước đây, ngay cả khi có một mâm thịt cá ê hề, y vẫn muốn có thêm vài ba miếng cà mới đủ ngon miệng. Mỗi khi nhai một miếng cà giòn rụm, y lại thấy bên tai văng vẳng lời nói của thầy: món này mê hoặc ở chỗ không ai biết miếng tiếp theo sẽ giòn hơn, mềm hơn, cay hơn, hay mặn hơn, nhưng cái chính là ta vẫn biết nó là miếng cà, dù mùi vị có thay đổi, hay ăn chung với bao nhiêu món khác.
“Con nghĩ ra rồi.” Cối hồ hởi nói. “Chính là cà muối. Con muốn ăn cà muối mỗi ngày.”
Ông cụ bật cười khanh khách, gương mặt hồng hào, còn ánh mắt sáng long lanh. Ông nói:
“Ừ, niềm hoan hỉ ấy, con đã ngộ ra cho bản thân, sau này hãy san sẻ cho người đời nữa nhé! Coi như đó là cách chuộc lại lỗi lầm. Cũng là cách để hối thúc bản thân cầu tiến.”
Cối reo ầm lên:
“Con sẽ trở thành thợ muối cà. Mọi người sẽ được ăn món cà của con.”
“Ta rất hoan nghênh.”
Nói rồi, ông cụ lầm rầm niệm chú. Trên tay ông hiện ra một cuốn sách đã hoen ố cả lõi lẫn bìa. Ông nói:
“Trong này ghi chép những bí thuật muối cà mà ta đã chắt lọc cả đời. Dẫu vậy, những trang giấy trắng vẫn còn nhiều. Ta giao cả cho con đấy.”
Cối hai mắt sáng rực, tay run run đỡ lấy cuốn sách. Đầu gối y quỳ trên mặt giường. Y dập đầu liên tục vào cuốn sách, xúc động nói:
“Con đa tạ thầy. Đa tạ công ơn trời biển của thầy.”
Cối ăn với thầy một bữa cơm nữa. Bữa này, y tha hồ ăn cà muối mà chẳng sợ đau bụng. Nước cốt đậm đà thấm nhuần trong miệng y, hết miếng này lại miếng khác. Cối ăn hết nhẵn hũ cà của thầy. Thầy của y chỉ gắp được vài miếng, nhưng chẳng hề thòm thèm hay tiếc rẻ. Trái lại, ông thấy trong lòng nhẹ tênh. Trước mắt ông, đứa học trò ngây ngô thuở nào lại hiện ra, dù hình hài vẫn là gã đàn ông tam tuần râu ria lỉa chỉa.
Sáng hôm sau, Cối từ biệt thầy để tiếp tục lên đường. Khi ra đến cổng, y còn ngoái lại hỏi:
“Thỉnh thoảng con lại về đây, có tiện cho thầy không ạ?”
Ông cụ hiền từ đáp:
“Con về lúc nào cũng được. Nhưng, hãy nhớ, những người sắp được thưởng thức cà muối ngoài kia mới cần gặp con.”
“Con nhớ rồi ạ.”
Cối chắp tay, cúi lạy thầy. Sau đó, y lại chống gậy băng rừng. Bộ dạng y vẫn lôi thôi, lếch thếch như ngày nào. Nhưng đây là lần đầu tiên trong đời, y đi chân trần mà nhịp chân lại thong dong, vững chãi.
Sir Colchian





