“Người đua diều” kể về Amir, một cậu bé ở Kabul (Afghanistan) lớn lên cùng người cha Baba và bạn thân kiêm người hầu Hassan – con của ông Ali, thuộc dân tộc Hazara bị khinh miệt. Hassan luôn trung thành và bảo vệ Amir, nhưng trong một lần đua diều, Amir đã chứng kiến Hassan bị Assef làm nhục mà không dám can thiệp. Sau đó, vì mặc cảm và ghen tị, Amir tìm cách đẩy Hassan và ông Ali rời đi.

Chiến tranh buộc Amir và Baba sang Mỹ. Tại đây, Amir kết hôn với Soraya, con của ngài Đại tướng và Jamila jan, một cựu nghệ sĩ với giọng hát tuyệt vời, không lâu Baba qua đời. Nhiều năm sau, Rahim Khan – bạn thân của Baba – tiết lộ sự thật rằng Hassan là anh em cùng cha khác mẹ với Amir, và đã bị Taliban giết cùng vợ. Hassan để lại con trai Sohrab. Amir quay lại Afghanistan, giải cứu Sohrab khỏi tay Assef và định đưa cậu sang Mỹ. Sohrab từng tự sát hụt và không nói chuyện suốt một năm, cho đến khi một lần nữa cậu bé cười mỉm khi cùng Amir thả diều ở cuối sách, gợi lại hình ảnh ba cậu bé là Hassan năm xưa.

Khaled Hosseini vẫn vậy – từng trang viết của ông vẽ nên một bức tranh phủ bụi, loang máu, mồ hôi và nước mắt, nhưng sau tất cả vẫn là ánh mặt trời của niềm tin và hy vọng. Người đua diều là bức tranh về Afghanistan hơn 30 năm trước, về danh dự, tình yêu, những lối thoát và cả giấc mơ Mỹ – một giấc mơ không phải ai cũng khao khát.

Nửa đầu cuốn sách nhuốm màu tiếc nuối, là những day dứt của Amir — vừa muốn trốn chạy, vừa khát khao trở lại tuổi thơ ở Kabul. Ở đó có Hassan cùng cậu chạy trên những triền đồi, có lòng trung tín tuyệt đối, có Baba uy nghi trên sân thượng dõi theo lần đầu cậu hạ gục mọi con diều khác, có chú Rahim Khan mà Amir luôn nói rằng bằng một cách nào đó, chú luôn biết, có ông Ali cà nhắc nhưng tận tụy lo cho ngôi nhà lâu cả trước khi Hassan ra đời.

Amir và Hassan bú chung một bà vú. Phải chăng đó là mối liên kết của họ được tác giả bày tỏ ngay từ ban đầu? Tiếng nói đầu tiên của Amir là “Baba”, của Hassan là “Amir”. Rồi phải chăng đây cũng là cái niềm khao khát của hai đứa trẻ trở về sau?
Amir luôn mong mỏi được ánh mắt của Baba rọi đến. Ông có lẽ là ánh sáng tuổi thơ mà cậu bé luôn mong mỏi có được, một sự công nhận vô hình để có lẽ nào khẳng định vị thế của Amir. Hassan, một cậu bé Hazara, một người ở của nhà Amir, lại có vẻ như có hết những phẩm chất mà Baba mong muốn ở cậu. Ông có vẻ tiếc rẻ mỗi một lời khen ông dành cho Amir, nhưng lại thoải mái vỗ vai Hassan khi thằng bé vượt trội hơn ở điều gì đó, mà hầu như là vậy. Ánh mắt Baba dành cho Hassan là thứ mà Amir mong cầu. Chính sự lãnh đạm đáng tiếc, mà về sau ta được biết là nỗi dằn vặt Baba đặt trên hai người con trai mình, đã tạo nên một Amir với thời thơ ấu kết thúc bằng tiếc nuối và mối liên kết gần như rời rạc giữa hai cha con. Amir lợi dụng những điều Hassan không biết để đảm bảo cái vị thế “chiếu trên” của mình. Hassan không biết chữ, Amir sẽ thêu dệt nên câu chuyện khác, sẽ chẳng chơi chung với cậu bé người ở khi có người khác ở gần. Hassan là một niềm ước ao, cũng là một mảnh Amir muốn che giấu. Bởi một khi Hassan có được ánh sáng, chẳng ai có thể đảm bảo bóng tối có bao trùm lấy Amir hay không, không có gì hết.

Tôi thấy tiếc nuối, nhưng tôi cho rằng cũng chẳng thể oán trách hết lên Amir. Dù sao thì y cũng chỉ là một đứa trẻ, một đứa trẻ thiếu cảm giác an toàn và được tin tưởng, một tâm hồn nghệ sĩ nhưng được yêu cầu nổi trội về sức mạnh thể chất không phải thế mạnh, và điều đó dằn vặt cậu. Trớ trêu thay, khi Amir lần đầu tiên đón nhận được ánh mắt tán thưởng của Baba, cậu đã chọn giấu đi Hassan cùng những ngày tháng ấu thơ kia. Con diều xanh chiến lợi phẩm đang rơi xuống, và Hassan chạy đi kiếm nó cho Amir Agha của cậu, vẫn như bao lần. Màu xanh của hy vọng, dành cho ánh nhìn cảm mến hơn và được chăng nằm trong vòng tay Baba tâm sự đầy thân thiết của Amir, nhưng là nỗi tuyệt vọng bao trùm lấy Hassan. Amir đã nghĩ gì? Đau đớn, tủi nhục trong con hẻm trước bè lũ của bọn Assef? Cậu đã thầm thì gì khi trông thấy Amir, liệu là lối thoát hay là tuyệt vọng, hay thậm chí thấy mọi điều nên thế, Amir Agha nên bỏ cậu lại vì như thế chẳng đáng để mạo hiểm chút nào chăng? Chúng ta không biết, nhưng có thật sự quan trọng nữa hay không? Amir Agha, cho đến giây phút Hassan từ bỏ cõi đời, vẫn là Amir trong câu bập bẹ đầu tiên cậu bé thốt ra trong đời. Và những năm tháng bên Amir đáng quý biết bao nhiêu, để sau này Hassan kể lại điều đó với vợ con cùng niềm vui hoài niệm, để đến giây phút biết rằng sự dối trá Amir đầy lên cậu sự mù mịt và bất an, phải chăng cả thất vọng, Hassan vẫn chọn bảo vệ nó. Tình cảm của Hassan, cho đến cuối cùng, dường như bất diệt.

Được dạy dỗ để mãi giữ lấy danh dự và niềm tự hào, Amir dường như vẫn luôn chới với để đạt được nó. Y thậm chí không dám kể lại sự dối trá của bản thân nhiều năm về trước ngay cả khi đã đặt chân đến nước Mỹ xa xôi. Đó là quá khứ phản bội lại thứ danh dự và tự hào Baba đã luôn mong đợi ở y. Liệu iftikhar, lòng kiêu hãnh ấy, có đáng không để quá nhiều người đánh đổi thời gian, quá khứ, rồi mắc kẹt trong những dĩ vãng xa xưa? Lòng kiêu hãnh đã ghìm Baba lại trước con mắt của thiên hạ, đã, theo lời chú Rahim Khan nói, chia Baba thành hai nửa, với Amir là nửa được thừa nhận, và Hassan là nửa bị giấu giếm đi. Cũng chính lòng kiêu hãnh ấy, đã bao bọc ông Tướng Sahib trong quá khứ, mong mỏi một ngày kia một Afghanistan thịnh vượng sẽ đến đón ông về với địa vị và sự kính trọng. Thế nhưng liệu rằng lòng kiêu hãnh ấy có đáng không? Khi mà trên thực tế, giữ ông ở lại và không hề làm gì để nuôi sống gia đình cho đến ngày đất mẹ của ông thật sự trở lại. Lý tưởng đó thật đẹp làm sao, nhưng khi gặp bụi bặm thời thế, hoá ra nó lại che mờ đi lý trí của kẻ tôn sùng nó. Thực tại với lý tưởng phải chăng bao giờ cũng thế? Cái nhìn của thiên hạ, đôi khi nó không là gì, đôi khi nó lại là tất cả. Jamila jan theo chồng, bà bỏ đi niềm ham mê ca hát của mình, bà không cất giọng lên ngay cả trong đám cưới cô con gái thân yêu của mình. Bà hạnh phúc và luôn yêu thương chồng con da diết, nhưng liệu có ai yêu lấy ước mơ của bà chăng? Cũng vẫn cái ánh nhìn đó, Hassan cho đến cuối vẫn không được biết gốc gác của mình, thứ mà phần lớn chúng ta coi như là dĩ lẽ, liệu có đáng không? Baba nhìn từ bên ngoài, có lẽ ông đã có được cái nhìn ấy. Người ta tôn trọng ông vì lòng hiếu khách, thương người, sự dũng cảm vì anh em bạn bè. Nhưng cũng chính cái nhìn ấy, đã khiến ông ôm lòng hổ thẹn suốt cuộc đời, về đứa con không được thừa nhận, về những gì mà nó đáng lẽ nên được hưởng và tình cảm không thể trao đi trọn vẹn cho Amir.

Đặt chân lên đất Mỹ, lòng kiêu hãnh dân tộc mờ dần đi, Baba trở nên nhạy cảm hơn với ánh nhìn đôi khi lại chẳng có hàm ý gì cả. Ông chán ghét ánh mắt thương hại và việc phải làm quen với mọi thứ lại từ đầu khi đã xế chiều gặm cắn tâm hồn ông. Người đàn ông can đảm vật với gấu rừng trong hồi ức của Amir và thiên hạ, đến cuối đời vẫn không thể bộc bạch được nỗi hổ thẹn của bản thân. Chuyến hồi hương của Amir tìm kiếm Sohrab là khởi nguồn cho hy vọng và tìm kiếm liều thuốc cho vết thương mưng mủ của y, không phải để chữa lành, mà là để nó đóng vỉ và mong sao trở thành một vết sẹo. “Luôn có một con đường để tốt lành trở lại.” – Phải chăng Sohrab chính là con đường đó? Amir không biết, nhưng y biết rằng ngay bây giờ hoặc không bao giờ. Sohrab giống Hassan cha nó đến đừng cử chỉ, từ cái điệu chống cằm suy nghĩ, hay cả ánh nhìn như khiến Amir quay trở lại một phần tư thế kỷ trước. Amir chưa bao giờ ngừng nhớ về quê hương. Từng câu văn đều thấm đượm cảnh vật Kabul của tuổi thơ y, từng trò chơi hay câu chuyện y và Hassan chia sẻ cùng nhau thuở ấy vẫn hiện lên trong tâm trí y mãi về sau trên đất Mỹ. Ngày trở về, Amir không ngừng tìm kiếm hình bóng xưa cũ trong từng viên gạch, cung đường, từng con người hay cả mùi hương của thịt cừu đã từng bao trùm cả con phố.

Và cánh diều, một hình ảnh của tự do, xưa kia nó bay cao như khát vọng được công nhận của Amir từ Baba, rồi rớt xuống mặt đất như thực tế và nỗi hèn nhát và lời dối trá để tự cứu lấy bản thân của cậu. Đúng là tình cảm của y và Baba đã trở nên tốt đẹp, nhưng dường như nó chỉ là phủ một lớp gạc lên vết thương đang lở loét mà không bôi thuốc, thời gian khó mà chữa lành được. Rất nhiều năm sau đó, cánh diều một lần nữa bay cao trên bầu trời, nhưng là ở nước Mỹ, vẫn là tự do, là hy vọng cho một nụ cười trở lại trên gương mặt trẻ thơ của Sohrab. Để sau bao ngày tháng dằn vặt và chôn giấu, Amir như được trở về những ngày tháng thơ ấu nằm trên đồi kể chuyện cho Hassan, được một lần nữa đắm mình trong ánh chiều tà quê hương và nghe từ người em ruột thịt của mình rằng một lần nữa “Vì cậu, cả ngàn lần rồi”.

Nguyễn Thị Khánh Ngân

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư “ly” kiêm thủ “hoán”,

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

Bản dịch:

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần. 

Qua bài thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình hòa quyện cùng nhịp sống lao động sôi động và những chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Mở đầu, bức tranh bến sông hiện lên đầy tĩnh lặng và nên thơ: “Gió im sóng lặng dạo bên sông / Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng”. Không gian khoáng đạt với gió êm sóng lặng tạo nên nền tảng hoàn hảo cho ánh nhìn quan sát. Từ điểm nhìn ấy, những chiếc thuyền chài hiện lên nối đuôi nhau giăng hàng trên mặt nước, tạo nên đường nét hài hòa, đậm chất hội họa, mở ra một khung cảnh yên ả và tràn đầy sức sống của vùng sông nước.

Sự chuyển động của con người thổi bùng lên sinh khí cho bức tranh bến đá: “Tay kiếm hang rồng sông mở lối / Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng”. Tuy chỉ là hoạt động đánh bắt cá, nhưng qua ngòi bút phóng khoáng của nữ sĩ, hành động ấy đã được nâng lên thành tầm vóc tráng lệ, hào hùng. Cùng với đó là nhịp sống thương mại đời thường tấp nập, ấm áp tình người: “Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối / Ông lái gõ chèo chén rượu nâng”. Tất cả đan cài uyển chuyển giữa những cảnh lao động dung dị, gần gũi của đời thường, khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ chiêm nghiệm sâu sắc: “Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán / Thánh nhân định vật, ý người trần”. Việc mượn các quẻ trong Kinh Dịch (quẻ Ly và quẻ Hoán) thể hiện sự thấu hiểu quy luật biến dịch khôn lường của tự nhiên và vũ trụ. Triết lý của thánh nhân trong việc mở mang vạn vật luôn hòa hợp với lòng người và nhịp sống tự nhiên. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự thấu triệt quy luật cuộc đời, tìm thấy sự an nhiên, thuận theo tự nhiên trong từng khoảnh khắc tồn tại.

“Thạch Phố Quan Ngư” là một hành trình thị giác và tâm hồn đưa người đọc hòa mình vào bức tranh thiên nhiên, đời sống và vũ trụ bao la. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc ngắm cảnh đánh cá bên bến đá và từ đó mở ra những tầng sâu triết lý về nhân sinh, nhắc nhở con người về sự hòa hợp giữa ta với đất trời, vũ trụ.

Thanh Ngân

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,
Phá kệ tàn bi yểm lục đài,
An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Bản dịch:

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh đá có duyên dời viên khác,
Chuông không giá móc vất bên đài,
Ngói tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư không một tối dựng lâu đài.

Bài thơ khắc họa sự hoang tàn, tiêu điều của chốn thiền môn qua lăng kính hoài cổ, đồng thời gửi gắm khát vọng hướng về sự tái thiết và những giá trị tâm linh vĩnh hằng.

Mở đầu, bức tranh chùa Khánh Minh hiện lên với vẻ vắng lặng, đìu hiu đến nao lòng: “Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại / Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy”. Không gian thiêng liêng xưa nay chìm trong phế tích, cỏ dại phủ lấp khắp nơi. Những vật dụng gắn liền với chốn tu hành giờ đây rơi vào cảnh lưu lạc, bơ vơ: “Khánh đá có duyên dời viên khác / Chuông không giá móc vất bên đài”. Sự tản mát của khánh, của chuông càng làm nổi bật sự trống trải, lạnh lẽo của một thời vang bóng nay đã chìm vào quên lãng.

Nỗi buồn hoài cổ thêm thấm đượm qua những hình ảnh chạm đến sự đổ nát tận cùng: “Ngói tan, xà mục chim làm tổ / Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi”. Mái ngói vỡ nát, xà nhà mục ruỗng giờ đây chỉ còn là chốn cho chim chóc lui tới làm tổ; bệ thờ, bia đá ngàn năm cũng bị lớp rêu phong vùi lấp. Cảnh tượng ấy gợi lên sự ngậm ngùi khôn nguôi trước quy luật vô thường của thời gian, khi những công trình vĩ đại hay chốn phật đường trang nghiêm cũng không thắng nổi sự bào mòn của thời gian.

Kết lại bài thơ, tác giả bất ngờ đẩy cảm xúc lên bằng một khát vọng lớn lao, đầy tính triết lý và mộng tưởng: “Giá được ngàn tay như Phật Tổ / Hư không một tối dựng lâu đài”. Giữa cõi điêu tàn, nhà thơ khao khát có được quyền năng của Phật nghìn mắt nghìn tay để xây dựng lại chốn thiền môn chỉ trong một đêm. Đó là mong ước phục dựng một ngôi chùa, còn là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, sự thiết tha gìn giữ những giá trị đạo đức, tâm linh cao đẹp trước sự tàn phá của thời gian.

“Bộ Khánh Minh Tự Cảm Hứng” là một khúc ca hoài cổ đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Bài thơ đưa người đọc chạm đến những khoảng lặng của tâm hồn, để từ đó thêm trân trọng những giá trị văn hóa, tâm linh và biết sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc của hiện tại.

Thanh Ngân

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Bản dịch:

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và đầy sức sống trên vùng sông nước Hoa Phong qua góc nhìn phóng khoáng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Mở đầu, hành trình qua vũng Hoa Phong hiện lên thật nhẹ nhàng, thư thái giữa không gian hoang sơ: “Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong / Đá dựng bờ son mọc giữa dòng”. Chiếc thuyền nhỏ với cánh buồm đơn sơ lướt đi thong thả giữa cảnh sắc vách đá dựng đứng và những bờ son vươn lên mạnh mẽ giữa dòng nước. Sự tương phản tinh tế giữa con người nhỏ bé và thiên nhiên đã mở ra một khung cảnh khoáng đạt, đầy ngoạn mục.

Cảnh quan tiếp tục vận động qua sự hòa quyện kỳ diệu giữa núi và nước, cùng nhịp sống của muôn loài: “Dòng nước lần theo chân núi chuyển / Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông”. Dòng nước uốn lượn uyển chuyển theo hình thế núi non, vô cùng nhịp nhàng. Nơi ấy, thiên nhiên còn tràn đầy sinh khí với “Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt / Âu lộ cùng bay bóng xế hồng”. Hơi thu mờ ảo hòa quyện cùng đàn chim âu trắng bay lượn dưới ánh nắng chiều đỏ rực, đã vẽ nên một bức tranh vừa huyền ảo, vừa ấm áp.

Kết lại bài thơ, Hồ Xuân Hương mở ra một không gian tưởng tượng huyền thoại đầy mê hoặc: “Băm sáu phòng mây cùng động ngọc / Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?”. Đứng trước vô số hang động kỳ vĩ và những phòng mây ẩn hiện, nữ sĩ ngỡ ngàng tự hỏi không biết đâu mới thực sự là cung điện Thủy Tinh lộng lẫy. Câu hỏi tu từ cuối bài là sự thán phục trước vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa, cũng bộc lộ tâm hồn bay bổng, lãng mạn của người lữ khách khi lạc bước vào cõi tiên.

“Độ Hoa Phong” như bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, đưa người đọc đắm chìm vào cõi thiên nhiên giao hòa, kỳ vĩ. Bài thơ ghi lại dấu ấn của một chuyến hành trình qua vùng sông nước và đánh thức tình yêu thiên nhiên, để lại dư âm bồi hồi mãi trong lòng người thưởng thức.

Thanh Ngân

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc bất ngõa từ giai bất thế,
Nham như tường bích thạch như diên,
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

Bản dịch:

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách như tường lát, đá như sườn.
Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,
Ong mật dâng hoa trước án hương.
Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên tĩnh mịch, hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh vật hoang sơ và tâm hồn thiền định thanh tịnh.

Mở đầu, không gian ngôi chùa cốc hiện lên đầy nguyên sơ, cổ kính và huyền bí: “Thần bào quỷ đẽo tự bao niên / Hình thể an bài sẵn tự nhiên”. Ngôi chùa ẩn mình trong hang đá, tựa như được bàn tay thần quỷ đẽo gọt qua muôn năm, mọi sự sắp đặt đều thuận theo tự nhiên, vượt lên trên dòng chảy của thời gian. Nét mộc mạc ấy càng được tô đậm qua hình ảnh kiến trúc đơn sơ: “Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát / Vách như tường lát, đá như sườn”. Không hề có dấu vết của nhân thế, tất cả đều hòa vào đất trời, mang lại cảm giác tĩnh tại, rũ bỏ hoàn toàn bụi trần.

Sự giao cảm kỳ diệu giữa vạn vật và chốn linh thiêng được mở rộng qua những hình ảnh sinh động, đầy tính triết lý thiền môn: “Đàn dơi cúng trái đài sen quý / Ong mật dâng hoa trước án hương”. Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, mang cả quả ngon, hoa thắm đến cúng dường trước án Phật. Chốn thiền môn lúc này không còn khoảng cách giữa con người và muông thú, giữa thực tại và cõi thiêng, tất cả đều chìm đắm trong sự hòa hợp, tôn nghiêm và thanh tịnh vô biên.

Kết lại bài thơ là khoảnh khắc thức tỉnh đầy vi diệu và sâu lắng: “Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót / Sư già chợt tỉnh giấc miên mang”. Những âm thanh của cuộc đời và thiên nhiên hòa quyện: tiếng sóng vỗ, tiếng ca của người tiều phu, tiếng chim chóc hót vang… đã đánh thức vị sư già khỏi giấc thiền định sâu thẳm. Tiếng động ấy là chất xúc tác đánh thức tâm thức, đưa con người trở về với thực tại minh triết, chạm đến cõi giác ngộ.

“Cốc Tự Tham Thiền” là hành trình đưa tâm hồn trở về với bản nguyên thanh tịnh nhất. Đứng trước không gian khoáng đạt và thâm trầm của chùa Cốc, con người như tìm thấy chốn bình yên sâu thẳm trong nội tâm, nơi mọi phiền muộn trôi đi, để lại sự an nhiên, trong từng nhịp sống.

Thanh Ngân

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi,
Thiên quân bảo khí minh lưu thuỷ,
Cửu cấp phù đồ hoá kiếp hôi,
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

Bản dịch:
Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn cân bảo khí reo bên nước,
Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Bài thơ khắc họa sự đối lập sâu sắc giữa hào quang quá khứ và sự tịch liêu của hiện tại.

Mở đầu, cảnh tượng hoang tàn hiện lên: “Cổ tháp di khư loạn thảo đôi / Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi”. Dấu tích của vị vua xưa nay trở thành đống đổ nát, cỏ dại bao phủ. Những giá trị từng được coi là vĩnh cửu như “Thiên quân bảo khí” hay “Cửu cấp phù đồ” giờ đây đều “hoá kiếp hôi”, trở về với cát bụi. Hình ảnh này khẳng định uy quyền và vật chất hữu hình hoàn toàn chịu khuất phục trước quy luật tự nhiên, chứng minh sự thịnh suy vốn là lẽ tất yếu của nhân thế.

Sự tương phản giữa tàn tích lịch sử và nhịp sống đời thường tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ: “Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng / Mục nhi khu độc há sơn ôi”. Trong khi di tích vĩ đại sụp đổ, người tiều phu vẫn thản nhiên tựa rìu ngủ trên đá, mục đồng vẫn xua đàn nghé xuống đồi. Cuộc sống đơn sơ, chân chất của con người đại diện cho sự vĩnh cửu. Họ chính là chủ nhân thực sự của ngọn núi, là hiện thân cho sự sống bất diệt, hồn nhiên và an nhiên giữa thiên nhiên tĩnh lặng.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ gửi gắm sự giác ngộ qua câu hỏi: “Đăng cao dục hội sơn tăng giảng / Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi”. Người thi sĩ tìm đến chốn chùa cao, mong cầu lời giảng đạo từ sơn tăng, nhưng chỉ nhận lại âm thanh tiếng chuông ngân vang. Đây chính là câu trả lời trọn vẹn nhất. Tiếng chuông chiều phá vỡ sự trầm mặc, xóa tan mọi thắc mắc về lẽ được mất. Chân lý hiện hữu trong âm thanh vang vọng, trong phút giây thực tại khi lòng người tĩnh lặng.

“Tháp Sơn Hoài Cổ” là hành trình người đọc tìm về cái gốc của tâm. Khi đứng trước sự đổ nát, con người nhận ra giá trị của sự bình yên. Bài thơ trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn rũ bỏ gánh nặng của thời gian, tìm về sự an nhiên giữa vòng quay sinh diệt. Mỗi âm thanh vang lên trong bài thơ đều là tiếng nói của sự thức tỉnh, mời gọi con người sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Thanh Ngân

Truyền văn Phật tích tại Linh San,
Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc tức thị không không thị sắc,
Thiền gia đương tác như thị quan.

Bản dịch:

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc tức thị không, không thị sắc
Thiền gia hiểu thế việc trần gian.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Phật Động Thâm U tựa như một nốt trầm sâu lắng, đưa người đọc rũ bỏ những ồn ào bụi bặm để bước vào hành trình tìm về cõi tịch liêu.

Mở đầu, nữ sĩ đưa ta vào không gian thiền vị bằng lời dẫn đầy tự nhiên: “Truyền văn Phật tích tại Linh San / Cận đắc sơn ông chỉ thử gian”. Nếu “truyền văn” gợi vẻ huyền thoại xa xôi, thì hình ảnh “sơn ông” chỉ lối lại kéo người đọc về với sự gần gũi của miền sơn cước. Người dẫn lối gắn bó cùng núi rừng, để bầu không khí trở nên chân thật. Ở đây, chân lý hiển hiện ngay khi con người tìm về tự nhiên nguyên thủy, lắng nghe sự chỉ dẫn từ những điều bình dị nhất.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục hiện lên qua hình ảnh “cửa động”, “đường cỏ dại” và “dấu rêu mòn”: “Động khẩu thiển thâm hoang thảo kính / Tự ngân nồng đậm ấn đài ban”. Những nét chữ xưa cũ chìm sâu dưới lớp rêu phong chính là hiện thân của tính vô thường. Thời gian khẳng định quyền năng vĩnh hằng khi xóa nhòa dấu tích hữu hình của thánh nhân, nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc của thiên nhiên. Sự phai nhạt của văn tự chính là lúc đạo hiển lộ, đưa lẽ thật của đời sống hòa quyện trọn vẹn vào cảnh vật.

Nhịp điệu bài thơ dần chậm lại, đi sâu vào sự chiêm nghiệm: “Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại / Cấp thủy biên khê tỉnh bất can”. Hình ảnh chiếc cầu soi bóng ngoài hồ và cái giếng bên khe nước là biểu tượng cho sự bất biến giữa dòng đời biến động. Dẫu vật đổi sao dời, dẫu đèn thả ngoài hồ tàn đi, sự thanh tịnh trong tâm thức vẫn vẹn nguyên, tràn đầy sức sống. Đó chính là sự tương thông giữa cái hữu hạn của ngoại cảnh và cái vô hạn của nội tâm: khi tâm an, thế giới xoay vần vẫn giữ được sự trong trẻo, tinh khôi của dòng suối trí tuệ đang luân chuyển trong mỗi người.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không thị sắc / Thiền gia đương tác như thị quan”. “Sắc” và “Không” lúc này trở thành hơi thở của vạn vật. Thiền gia tìm thấy Phật ngay trong sự chuyển hóa không ngừng của cái hữu hình và cái vô hình. Đó là thái độ sống thấu suốt sự đời hư ảo để đạt tới sự bình thản tuyệt đối. Khi buông bỏ sự bám víu vào “sắc” hay “không”, con người sẽ chạm đến cõi an nhiên, tự tại.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biến không gian hang động u tịch thành thánh đường tâm thức, nơi mọi vọng niệm được thanh tẩy bởi sự tĩnh lặng của Linh Sơn. Qua cái nhìn đầy tuệ giác, ta nhận ra Phật hiện hữu trong chính hơi thở nhẹ nhàng của cỏ cây, khe suối, và trong sự thức tỉnh của lòng người giữa cõi thế. Để mỗi cá nhân có thể tự tìm được cho riêng mình một “Phật động” thanh tịnh, nơi bản ngã an yên, hòa nhập vào vũ trụ bao la.

Thanh Ngân

Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739-1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Tổng biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 255 Thể loại: Truyện ký In

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 238 Thể loại: Tản văn In và

THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày mùa hoa văn chương đầu tiên của Nguyễn Thị Thiếu Anh lụi tàn. Cô nữ

Lịch sử không dành cho đôi vợ chồng trẻ quá nhiều thời gian bình yên. Chỉ vài năm sau, Cách mạng tháng Tám bùng nổ,

Trong màn họa thơ với chàng “Vô danh” ở phần trước, Nguyễn Thị Thiếu Anh từng kiêu hãnh tuyên bố: “Thiếu Anh”? Ta thiếu anh