Đông Di là một nhà văn “trẻ”. Hồ Xuân Hương và tôi là tác phẩm trình “tao đàn” thứ hai của chị (trước đó là cuốn Những đứa con của cây cầu Long Biên đã gây được tiếng vang trong văn giới). Nhân vật chính có tên Đông Di (trùng tên với tác giả) là người mộ đạo Phật, đến Nepal – nơi xưa kia Đức Phật đã đản sinh- cùng với một người bạn có tên là Mỹ Lai. Họ đến với mục đích chính là dự lễ xuất gia của người yêu cũ Đông Di- chàng Tây Độc. Trên đường đi, Đông Di kể lại những điều mắt thấy tai nghe, nghĩ suy, chiêm nghiệm về những di chỉ của một nền văn minh cổ, song hành cùng sự ứng chiếu với thơ của Xuân Hương nữ sĩ. Vừa như một bản du kí, vừa như một bản tự truyện, Đông Di gửi vào tác phẩm niềm kính yêu mãnh liệt dành cho Xuân Hương nữ sĩ.

Đông Di có cách nhìn, cách cảm lạ lùng về Hồ Xuân Hương. Bao lâu nay, Hồ Xuân Hương tưởng như đã được mặc định với danh hiệu cao quý “Bà chúa thơ Nôm” mà ông hoàng thơ tình Xuân Diệu trao. Nhưng không, đến Hồ Xuân Hương và tôi, Đông Di đã nâng Hồ Xuân Hương lên một vị thế mới, thiêng liêng, thành kính: NỮ THẦN. Với Đông Di, nữ thần Hồ Xuân Hương như viên ngọc long lanh, không tì vết. Bà hoàn hảo từ ngoại hình đến tâm hồn, tài năng và phẩm giá. Đông Di cũng cho thấy, đó không phải là chuyện “yêu nhau yêu cả đường đi” mà là “nói có sách, mách có chứng”. Chứng cứ đó được ghi trong sử sách, được hiện diện trong thơ bà và được xác quyết qua lời kể của người đương thời, hết mực thân cận với Xuân Hương thông qua nhập hồn, lên đồng. Từ những cứ liệu đó, Hồ Xuân Hương của Đông Di có sự hội tụ nhiều nữ thần trong một nữ thần: nữ thần sắc đẹp, nữ thần thơ ca, nữ thần tình yêu, nữ thần nhân hậu,…

Sắc nước hương trời của Hồ Xuân Hương đã từng được bao sĩ phu Bắc Hà trầm trồ ngợi khen, đắm say. Đông Di viết: “Lúc này, bài bình luận của các sĩ phu Bắc Hà đột nhiên hiện về trong tâm trí của tôi. Họ là những văn nhân cùng thời với Nữ thần của tôi, và họ đã bình phẩm như thế này: Xuân Hương là một nữ lưu tài hoa, vẻ mặt như hoa đào, nhan sắc như nước thu. Ngàn vàng sao xứng nụ cười duyên. Nàng mà không chết đi, ai mà không mắc lụy. Nàng mà còn sống, ai mà vô tình được?”. Mỹ nữ họ Hồ đã được miêu tả bằng bút pháp ước lệ qua thiên nhiên, bằng những hình ảnh đẹp đẽ nhất của thế giới tự nhiên: hoa đào, nước thu, ngàn vàng sao… Bà khác nào những tuyệt thế giai nhân chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn, nghiêng nước nghiêng thành?

Song hành với vẻ đẹp tuyệt mĩ, Hồ Xuân Hương còn là bậc kỳ tài. “Nữ thần của tôi làm thơ chữ Nôm đã vượt lên trên mọi văn sĩ nước Nam, bà còn làm thơ chữ Hán đến cả các văn nhân người Hoa Hạ cũng phải khâm phục”, “Học chữ Hán mới biết là chữ Hán khó, tôi đã trải nghiệm qua sự khó này nên tôi tin chắc làm thơ chữ Hán còn khó hơn gấp bội. Trong thơ của bà, mỗi câu từ đều gắn liền với biết bao nhiêu điển cố. Nhiều khi tôi cứ tự hỏi; phải mất bao nhiêu năm đèn sách mới học hết được các điển cố này nhỉ ? Chưa kể đến những sự tích trong kinh điển Phật giáo cũng luôn có mặt trong thơ ca của bà. Tôi nghĩ mười năm đèn sách của một sĩ tử cũng vẫn là chưa đủ”. Với Đông Di, đó thực là kì tích đối với một nữ nhi. Nam nhi thời đó cùng đâu dễ gì vượt qua. Tác giả khẳng định: “Đẳng cấp của bà phải là đẳng cấp của một đại thi hào”.

Việc Hồ Xuân Hương mở Cổ Nguyệt đường, Đông Di xem đó là kì tích đáng tự hào của văn hóa nước Việt. Nhà văn đã đặt Cổ Nguyệt đường sánh ngang với salon của các quý bà người Pháp và khẳng định đó “là một hiện tượng độc nhất vô nhị của nền văn minh phương Đông”, không thể “tìm được một Cổ Nguyệt Đường như thế ở Trung Quốc, ở Nhật bản, ở Ấn độ”. Cổ Nguyệt đường là một minh chứng giá trị để thấy tầm vóc, đóng góp về văn hóa của Hồ Xuân Hương là vô cùng to lớn.

Đông Di tìm kiếm, khai thác những điểm hơn người của Hồ Xuân Hương. Tác giả sửng sốt khi bà dám ví mình là rồng, “trong khi các nam văn sĩ trong thời phong kiến thì một chữ cũng không dám động chạm tới hình tượng của hoàng đế”. Điều đó, “thật không thể tìm thấy được ở đâu trong lịch sử văn minh nhân loại từ phương Đông sang phương Tây:

“Rồng tắm ao tù từng phận tủi,
Mưa gieo xuống giếng uổng lòng mong.”

Ở đời sống tình cảm, Đông Di thán phục khi Xuân Hương đã nói đến YÊU và DÁM YÊU ngay từ thế kỷ XVIII:

“Trời đem tài sắc cho trông thấy,
Người có phong tình mới dám yêu.”

Đông Di viết: “Nữ thần của tôi đã bỏ quá xa người đời ở thời đại của bà, thậm chí so với cả người của thời đại ngày nay bà cũng đã ở trên một tầng cao khác rồi. Người đời phần nhiều mới chỉ dám nói đến chứ YÊU, có bao nhiêu người dám dấn thân đi với chữ YÊU? Từ xưa đến nay trong bất cứ bối cảnh xã hội nào, dù ở phương Đông hay phương Tây, người phụ nữ mà dám yêu đều là người cực kỳ can đảm. Nữ thần của tôi không những biết yêu mà còn dám dõng dạc tuyên bố là bà dám yêu giữa những kẻ hủ nho, trong bối cảnh của xã hội phong kiến tại thế kỷ 18. Không thể tin được”. Đông Di nói: “Nữ thần của tôi là duy nhất”. Thú vị là, hơn 200 năm qua, dù đã có bao người yêu thơ Hồ Xuân Hương, nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương nhưng cũng mới chỉ có duy nhất một Đông Di phát hiện những sự “ghê gớm” vượt thời đại đó của Hồ Xuân Hương!

Với những kì tích và dị biệt đó, Đông Di khẳng định Hồ Xuân Hương xứng đáng được tôn vinh là “nữ thần tình yêu” cùng đẳng cấp với Aphrodite, Venus, là “nữ thần văn hóa” cùng với “những nàng Muse, Calliope… “Tuy vậy, những nữ thần này là những nhân vật hư cấu của người Hy Lạp cổ đại, còn Nữ thần của tôi là con người bằng xương bằng thịt”. “Các nữ thần Tình yêu của các nền văn hóa trên thế giới, nào có ai trong số họ biết yêu như Nữ thần của tôi? Nữ thần của tôi dám yêu, dám chấp nhận những hệ luỵ của tình yêu. Tôi không tìm thấy bất cứ một chữ nào trong các bài thơ của bà bày tỏ sự oán trách, sự nghi ngờ hay biểu hiện của sự nhìn đi xét lại xem nam nhân đó có xứng đáng để yêu như vậy không. Xem ra nam nhân này cũng không phải là nhân vật tầm thường”. Chưa kể “Nữ thần của tôi phải bươn trải trong dòng đời, gánh vác trách nhiệm nuôi sống gia đình, chăm sóc mẹ già. Hàng ngày còn phải mang tài nghệ, học vấn của mình ra thi thố với đám kẻ sĩ để duy trì Cổ Nguyệt đường, vừa phải tránh né những lời cợt nhả vừa phải mưu tính cho công việc hanh thông. Vậy mà, bà vẫn giữ một tấm lòng tràn đầy tình yêu cuộc sống, yêu con người”, “thật là người nhân hậu, thật là người phi thường”…

Thần thánh hóa Hồ Xuân Hương như vậy nên Đông Di luôn không kiềm chế được cảm xúc khi thấy Hồ Xuân Hương bị đánh giá chưa đúng tầm hoặc lệch lạc. Nhà văn luôn tiếp đặt câu hỏi: “Cổ Nguyệt đường không phải là một salon văn chương của nền văn hoá Việt sao? Không phải là một hiện tượng độc nhất vô nhị của nền văn minh phương Đông sao? Có thể tìm được một Cổ Nguyệt đường như thế ở Trung Quốc, ở Nhật bản, ở Ấn Độ sao? Chị vẫn không hiểu tại sao người Việt lại không tự hào có một Cổ Nguyệt đường như thế, một salon văn chương Việt như thế trong nền văn hoá của mình?”, “Họ (các nhà nghiên cứu) đã bỏ nhiều thời gian, công sức để tìm hiểu và nghiên cứu về Nữ thần, chẳng nhẽ họ không hiểu ý tứ của Nữ thần qua câu thơ này?”, “Một người phụ nữ có tài năng có nhan sắc, lại biết yêu và dám yêu hoàn toàn xứng đáng được tôn vinh là Nữ thần tình yêu, tại sao người đời lại không nhận thấy nhỉ?”, “Tại sao lại vậy nhỉ? Tại sao các học giả người Việt, họ không ngồi xuống cùng nhau nghiên cứu kỹ lưỡng những tài liệu về bà, để cho cung cấp cho học trò chúng tôi có một cái nhìn đầy đủ và khách quan?”…

Đông Di luôn lên tiếng cải chính những cái nhìn lệch lạc, sai trái về Hồ Xuân Hương. Nhà văn quyết liệt bảo vệ Xuân Hương nữ sĩ- nữ thần trong lòng bà. Khi Mỹ Lai hỏi: “- Đông Di, chị có thấy Nữ thần của chị rất có hiềm khích với Phật giáo không?”, Đông Di “lập tức tỉnh táo ngay sau câu nói của nàng, vội vàng nói lời cải chính:

– Mỹ Lai, không phải như thế đâu. Mọi người đã hiểu sai về Nữ thần của chị. Nữ thần hay thăm viếng chùa như vậy, lại là người biết chữ nghĩa, đương nhiên là Nữ thần hiểu Phật pháp, chắc chắn đã đọc kinh tạng. Người như vậy làm sao mà không yêu thích Phật giáo được. (…) Các cụ thường hay dạy: Yêu cho roi cho vọt. Ghét cho ngọt cho bùi. Nữ thần của chị là yêu Phật, yêu Pháp và yêu Tăng. Vì yêu Tăng nên Nữ thần mới phê phán những hành vi không đúng giới luật của họ, chỉ với mong muốn để họ sửa đổi thôi.”.

Khi nghe Tây Độc trao đổi với Mỹ Lai rằng tác giả Maurice Durand (1914- 1966), người Pháp, dịch thơ Hồ Xuân Hương và nói nữ sĩ họ Hồ là một người đàn bà phóng đãng, bị ám ảnh bởi ham muốn dâm dục, Đông Di nổi xung thiên “trong cơn giận dữ đến không thể kiềm chế”. Cô “hét vào mặt Tây Độc: – Cái lão Maurice Durand kia mới là phóng đãng, dâm dục. Cả đám nhà các anh mới là phóng đãng, dâm dục. Các anh đã dùng tâm hồn dung tục để đọc thơ của Nữ thần của tôi, thật làm ô uế những vần thơ. Anh biết không, tôi đã ước rằng, giá như lũ các anh mù chữ, vậy thì chẳng bao giờ có thể đọc được đến thơ của bà mà đem ra phê bình hay bình luận”. Đông Di không cho phép mọi người làm uế bẩn nữ thần của cô. Xem ra, cô sẵn sàng làm những cuộc thánh chiến để bảo vệ nữ thần họ Hồ.

Một lí do nữa khiến Đông Di xem Hồ Xuân Hương là nữ thần là bởi Đông Di luôn thấy những vần thơ của nữ sĩ ứng với mọi tình huống, hoàn cảnh mà cô trải nghiệm. Với Đông Di, “mỗi bài thơ của bà hiện ra giống như một bức tranh vậy, và mỗi bức tranh là sự phản ánh một khía cạnh của hiện thực trong đời sống nơi trần gian”. Dường như gặp bất cứ chuyện gì, Đông Di cũng có thể dẫn một bài thơ của
Hồ Xuân Hương. Buồn khi thấy không thể làm thầy pháp, Đông Di nhớ xưa Hồ Xuân Hương đã tuyên ngôn:

“Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

Ra khỏi cổng tam quan chùa hiu hắt ở Nepal, Đông Di “bỗng nhiên tức cảnh mà đọc lên bài thơ của Nữ thần:

“Quán Sứ chùa xưa cảnh vắng teo,
Thương ôi sư đã hoá ra mèo.
Sáng banh vắng kẻ khua dùi mõ,
Trưa trật không người quét kẽ rêu.

Thương Tây Độc rơi vào trạng huống éo le, Đông Di cảm thấy “Có lẽ chỉ có Nữ thần của chị mới hiểu được hoàn cảnh của Tây Độc lúc này” với những câu thơ:

“Đằng quốc xưa nay vốn nhỏ nhoi,
Lại còn Tề Sở ép hai bên.
Ngoảnh mặt sang Tề e Sở giận,
Quay đầu về Sở sợ Tề ghen.”

Cứ như vậy, Đông Di đã đan cài 37 bài thơ của Hồ Xuân Hương vào tác phẩm. Các bài thơ như “nói hộ” cho Đông Di những cảnh vật, tâm trạng, nỗi niềm và suy tư. Dường như Xuân Hương đã tiên liệu, dự báo tất cả. Mỗi bài thơ của Hồ Xuân Hương đều như một bài sấm kí. Xuân Hương là nữ thần thơ nước Việt, gửi “tinh anh” trong thơ mình và song hành theo Đông Di trên mọi nẻo đường trong chuyến đi.

Có thể nói, với Hồ Xuân Hương và tôi, Đông Di dành cho Hồ Xuân Hương một tình yêu bất tận. Tình yêu ấy gắn liền tình yêu kinh thành Thăng Long, tình yêu nước Việt. “Người yêu mến Thăng Long sẽ luôn có một tấm lòng đau đáu về nơi chốn này. Tôi yêu thơ của Nữ thần một phần cũng vì tôi luôn tìm thấy sự đồng cảm ở bà trong tình yêu với thành phố này. Mỗi khi tôi nhìn thấy vết đại bác trên bức tường thành Cửa Bắc, hay nhìn thấy vết sứt sẹo trên mai con rùa đang cõng bia đá ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, tôi đều nhớ đến bài thơ này của Nữ thần”. Đó cũng là tình yêu “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”? Có một Đông Di yêu kính Hồ Xuân Hương và cũng có một Đông Di phẳng phất thần khí của Hồ Xuân Hương giữa cuộc đời, ở Nepal, đồng hiện trong Hồ Xuân Hương và tôi?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Tính

Phong điềm ba tỉnh độ giang mi,

Vọng vọng ngu châu nhất tự nhi,

Thủ thám giao cung giang tác lộ,

Võng thu thần thị tịch vi kỳ,

Huề la bản phụ phan thuyền vĩ,

Khấu tiệp đà sư hệ tửu chi,

Hoặc thủ chư “ly” kiêm thủ “hoán”,

Thánh nhân khai vật dữ nhân nghi.

Bản dịch:

Gió im sóng lặng dạo bên sông,

Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng,

Tay kiếm hang rồng sông mở lối,

Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng,

Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối,

Ông lái gõ chèo chén rượu nâng,

Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán,

Thánh nhân định vật, ý người trần. 

Qua bài thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thanh bình hòa quyện cùng nhịp sống lao động sôi động và những chiêm nghiệm triết lý sâu sắc.

Mở đầu, bức tranh bến sông hiện lên đầy tĩnh lặng và nên thơ: “Gió im sóng lặng dạo bên sông / Ngắm ngắm thuyền chài giang giăng hàng”. Không gian khoáng đạt với gió êm sóng lặng tạo nên nền tảng hoàn hảo cho ánh nhìn quan sát. Từ điểm nhìn ấy, những chiếc thuyền chài hiện lên nối đuôi nhau giăng hàng trên mặt nước, tạo nên đường nét hài hòa, đậm chất hội họa, mở ra một khung cảnh yên ả và tràn đầy sức sống của vùng sông nước.

Sự chuyển động của con người thổi bùng lên sinh khí cho bức tranh bến đá: “Tay kiếm hang rồng sông mở lối / Lưới quăng chợ hến sóng cờ dâng”. Tuy chỉ là hoạt động đánh bắt cá, nhưng qua ngòi bút phóng khoáng của nữ sĩ, hành động ấy đã được nâng lên thành tầm vóc tráng lệ, hào hùng. Cùng với đó là nhịp sống thương mại đời thường tấp nập, ấm áp tình người: “Bà buôn xách giỏ vin khoan cuối / Ông lái gõ chèo chén rượu nâng”. Tất cả đan cài uyển chuyển giữa những cảnh lao động dung dị, gần gũi của đời thường, khẳng định sự gắn bó bền chặt giữa con người và thiên nhiên.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ chiêm nghiệm sâu sắc: “Hoặc lúc quẻ ly, khi quẻ hoán / Thánh nhân định vật, ý người trần”. Việc mượn các quẻ trong Kinh Dịch (quẻ Ly và quẻ Hoán) thể hiện sự thấu hiểu quy luật biến dịch khôn lường của tự nhiên và vũ trụ. Triết lý của thánh nhân trong việc mở mang vạn vật luôn hòa hợp với lòng người và nhịp sống tự nhiên. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp về sự thấu triệt quy luật cuộc đời, tìm thấy sự an nhiên, thuận theo tự nhiên trong từng khoảnh khắc tồn tại.

“Thạch Phố Quan Ngư” là một hành trình thị giác và tâm hồn đưa người đọc hòa mình vào bức tranh thiên nhiên, đời sống và vũ trụ bao la. Bài thơ ghi lại khoảnh khắc ngắm cảnh đánh cá bên bến đá và từ đó mở ra những tầng sâu triết lý về nhân sinh, nhắc nhở con người về sự hòa hợp giữa ta với đất trời, vũ trụ.

Thanh Ngân

Phạn Vương quy khứ kỷ thời lai,
Không ủy Kỳ Viên ế thảo lai,
Khánh hữu cơ duyên quy biệt viện,
Chung vô cư nghiệp trệ không giai,
Ðồi lương bại ngõa sào ma tước,
Phá kệ tàn bi yểm lục đài,
An đắc Như Lai Thiên Thủ Phật,
Hư không nhất dạ khởi lâu đài.

Bản dịch:

Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại,
Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy,
Khánh đá có duyên dời viên khác,
Chuông không giá móc vất bên đài,
Ngói tan, xà mục chim làm tổ,
Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi,
Giá được ngàn tay như Phật Tổ,
Hư không một tối dựng lâu đài.

Bài thơ khắc họa sự hoang tàn, tiêu điều của chốn thiền môn qua lăng kính hoài cổ, đồng thời gửi gắm khát vọng hướng về sự tái thiết và những giá trị tâm linh vĩnh hằng.

Mở đầu, bức tranh chùa Khánh Minh hiện lên với vẻ vắng lặng, đìu hiu đến nao lòng: “Phạn Vương đi khỏi bao giờ lại / Còn để Kỳ Viên cỏ mọc đầy”. Không gian thiêng liêng xưa nay chìm trong phế tích, cỏ dại phủ lấp khắp nơi. Những vật dụng gắn liền với chốn tu hành giờ đây rơi vào cảnh lưu lạc, bơ vơ: “Khánh đá có duyên dời viên khác / Chuông không giá móc vất bên đài”. Sự tản mát của khánh, của chuông càng làm nổi bật sự trống trải, lạnh lẽo của một thời vang bóng nay đã chìm vào quên lãng.

Nỗi buồn hoài cổ thêm thấm đượm qua những hình ảnh chạm đến sự đổ nát tận cùng: “Ngói tan, xà mục chim làm tổ / Bệ vỡ, bia mòn rêu biếc vùi”. Mái ngói vỡ nát, xà nhà mục ruỗng giờ đây chỉ còn là chốn cho chim chóc lui tới làm tổ; bệ thờ, bia đá ngàn năm cũng bị lớp rêu phong vùi lấp. Cảnh tượng ấy gợi lên sự ngậm ngùi khôn nguôi trước quy luật vô thường của thời gian, khi những công trình vĩ đại hay chốn phật đường trang nghiêm cũng không thắng nổi sự bào mòn của thời gian.

Kết lại bài thơ, tác giả bất ngờ đẩy cảm xúc lên bằng một khát vọng lớn lao, đầy tính triết lý và mộng tưởng: “Giá được ngàn tay như Phật Tổ / Hư không một tối dựng lâu đài”. Giữa cõi điêu tàn, nhà thơ khao khát có được quyền năng của Phật nghìn mắt nghìn tay để xây dựng lại chốn thiền môn chỉ trong một đêm. Đó là mong ước phục dựng một ngôi chùa, còn là biểu tượng cho tấm lòng thành kính, sự thiết tha gìn giữ những giá trị đạo đức, tâm linh cao đẹp trước sự tàn phá của thời gian.

“Bộ Khánh Minh Tự Cảm Hứng” là một khúc ca hoài cổ đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi nhân văn. Bài thơ đưa người đọc chạm đến những khoảng lặng của tâm hồn, để từ đó thêm trân trọng những giá trị văn hóa, tâm linh và biết sống sâu sắc hơn trong từng khoảnh khắc của hiện tại.

Thanh Ngân

Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.

Bản dịch:

Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong.
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc,
Đâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ và đầy sức sống trên vùng sông nước Hoa Phong qua góc nhìn phóng khoáng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Mở đầu, hành trình qua vũng Hoa Phong hiện lên thật nhẹ nhàng, thư thái giữa không gian hoang sơ: “Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong / Đá dựng bờ son mọc giữa dòng”. Chiếc thuyền nhỏ với cánh buồm đơn sơ lướt đi thong thả giữa cảnh sắc vách đá dựng đứng và những bờ son vươn lên mạnh mẽ giữa dòng nước. Sự tương phản tinh tế giữa con người nhỏ bé và thiên nhiên đã mở ra một khung cảnh khoáng đạt, đầy ngoạn mục.

Cảnh quan tiếp tục vận động qua sự hòa quyện kỳ diệu giữa núi và nước, cùng nhịp sống của muôn loài: “Dòng nước lần theo chân núi chuyển / Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông”. Dòng nước uốn lượn uyển chuyển theo hình thế núi non, vô cùng nhịp nhàng. Nơi ấy, thiên nhiên còn tràn đầy sinh khí với “Cá rồng lẩn nấp hơi thu nhạt / Âu lộ cùng bay bóng xế hồng”. Hơi thu mờ ảo hòa quyện cùng đàn chim âu trắng bay lượn dưới ánh nắng chiều đỏ rực, đã vẽ nên một bức tranh vừa huyền ảo, vừa ấm áp.

Kết lại bài thơ, Hồ Xuân Hương mở ra một không gian tưởng tượng huyền thoại đầy mê hoặc: “Băm sáu phòng mây cùng động ngọc / Đâu nào là cái Thủy Tinh cung?”. Đứng trước vô số hang động kỳ vĩ và những phòng mây ẩn hiện, nữ sĩ ngỡ ngàng tự hỏi không biết đâu mới thực sự là cung điện Thủy Tinh lộng lẫy. Câu hỏi tu từ cuối bài là sự thán phục trước vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa, cũng bộc lộ tâm hồn bay bổng, lãng mạn của người lữ khách khi lạc bước vào cõi tiên.

“Độ Hoa Phong” như bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, đưa người đọc đắm chìm vào cõi thiên nhiên giao hòa, kỳ vĩ. Bài thơ ghi lại dấu ấn của một chuyến hành trình qua vùng sông nước và đánh thức tình yêu thiên nhiên, để lại dư âm bồi hồi mãi trong lòng người thưởng thức.

Thanh Ngân

Thần ngoan quỷ tạc bất tri niên,
Thế thế an bài nhược tự nhiên,
Ốc bất ngõa từ giai bất thế,
Nham như tường bích thạch như diên,
Dạ minh hiến quả liên đài hạ,
Phong tử hàm hoa bảo án tiền,
Ðào hưởng tiều ca hòa điểu ngữ,
Thanh thanh hoán tỉnh lão tăng miên.

Bản dịch:

Thần bào quỹ đẽo tự bao niên,
Hình thể an bài sẵn tự nhiên,
Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát,
Vách như tường lát, đá như sườn.
Ðàn dơi cúng trái dài sen quý,
Ong mật dâng hoa trước án hương.
Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót,
Sư già chợt tỉnh giấc miên mang.

Bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên tĩnh mịch, hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh vật hoang sơ và tâm hồn thiền định thanh tịnh.

Mở đầu, không gian ngôi chùa cốc hiện lên đầy nguyên sơ, cổ kính và huyền bí: “Thần bào quỷ đẽo tự bao niên / Hình thể an bài sẵn tự nhiên”. Ngôi chùa ẩn mình trong hang đá, tựa như được bàn tay thần quỷ đẽo gọt qua muôn năm, mọi sự sắp đặt đều thuận theo tự nhiên, vượt lên trên dòng chảy của thời gian. Nét mộc mạc ấy càng được tô đậm qua hình ảnh kiến trúc đơn sơ: “Mái chẳng ngói tranh, thềm chẳng trát / Vách như tường lát, đá như sườn”. Không hề có dấu vết của nhân thế, tất cả đều hòa vào đất trời, mang lại cảm giác tĩnh tại, rũ bỏ hoàn toàn bụi trần.

Sự giao cảm kỳ diệu giữa vạn vật và chốn linh thiêng được mở rộng qua những hình ảnh sinh động, đầy tính triết lý thiền môn: “Đàn dơi cúng trái đài sen quý / Ong mật dâng hoa trước án hương”. Thiên nhiên dường như cũng có linh hồn, mang cả quả ngon, hoa thắm đến cúng dường trước án Phật. Chốn thiền môn lúc này không còn khoảng cách giữa con người và muông thú, giữa thực tại và cõi thiêng, tất cả đều chìm đắm trong sự hòa hợp, tôn nghiêm và thanh tịnh vô biên.

Kết lại bài thơ là khoảnh khắc thức tỉnh đầy vi diệu và sâu lắng: “Sóng vỗ, ca tiều, chim chóc hót / Sư già chợt tỉnh giấc miên mang”. Những âm thanh của cuộc đời và thiên nhiên hòa quyện: tiếng sóng vỗ, tiếng ca của người tiều phu, tiếng chim chóc hót vang… đã đánh thức vị sư già khỏi giấc thiền định sâu thẳm. Tiếng động ấy là chất xúc tác đánh thức tâm thức, đưa con người trở về với thực tại minh triết, chạm đến cõi giác ngộ.

“Cốc Tự Tham Thiền” là hành trình đưa tâm hồn trở về với bản nguyên thanh tịnh nhất. Đứng trước không gian khoáng đạt và thâm trầm của chùa Cốc, con người như tìm thấy chốn bình yên sâu thẳm trong nội tâm, nơi mọi phiền muộn trôi đi, để lại sự an nhiên, trong từng nhịp sống.

Thanh Ngân

Cổ tháp di khư loạn thảo đôi,
Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi,
Thiên quân bảo khí minh lưu thuỷ,
Cửu cấp phù đồ hoá kiếp hôi,
Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng,
Mục nhi khu độc há sơn ôi,
Ðăng cao dục hội sơn tăng giảng,
Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi.

Bản dịch:
Tháp cũ nền xưa cỏ dại tràn,
Dục Vương xa vắng cảnh hoang tàn,
Ngàn cân bảo khí reo bên nước,
Chín bậc phù đồ gạch ngói tan,
Tiều tử tựa rìu bên đá ngủ,
Mục đồng xua nghé xuống đồi hoang,
Lên cao muốn hỏi sơn tăng đạo,
Chuông vắng đâu đây vọng cuối ngàn.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Bài thơ khắc họa sự đối lập sâu sắc giữa hào quang quá khứ và sự tịch liêu của hiện tại.

Mở đầu, cảnh tượng hoang tàn hiện lên: “Cổ tháp di khư loạn thảo đôi / Dục Vương khứ hậu uỷ hôi đồi”. Dấu tích của vị vua xưa nay trở thành đống đổ nát, cỏ dại bao phủ. Những giá trị từng được coi là vĩnh cửu như “Thiên quân bảo khí” hay “Cửu cấp phù đồ” giờ đây đều “hoá kiếp hôi”, trở về với cát bụi. Hình ảnh này khẳng định uy quyền và vật chất hữu hình hoàn toàn chịu khuất phục trước quy luật tự nhiên, chứng minh sự thịnh suy vốn là lẽ tất yếu của nhân thế.

Sự tương phản giữa tàn tích lịch sử và nhịp sống đời thường tạo nên chiều sâu cảm xúc cho bài thơ: “Tiều tử ỷ kha miên thạch đắng / Mục nhi khu độc há sơn ôi”. Trong khi di tích vĩ đại sụp đổ, người tiều phu vẫn thản nhiên tựa rìu ngủ trên đá, mục đồng vẫn xua đàn nghé xuống đồi. Cuộc sống đơn sơ, chân chất của con người đại diện cho sự vĩnh cửu. Họ chính là chủ nhân thực sự của ngọn núi, là hiện thân cho sự sống bất diệt, hồn nhiên và an nhiên giữa thiên nhiên tĩnh lặng.

Kết lại bài thơ, nữ sĩ gửi gắm sự giác ngộ qua câu hỏi: “Đăng cao dục hội sơn tăng giảng / Hà xứ chung thanh khụ nhất hồi”. Người thi sĩ tìm đến chốn chùa cao, mong cầu lời giảng đạo từ sơn tăng, nhưng chỉ nhận lại âm thanh tiếng chuông ngân vang. Đây chính là câu trả lời trọn vẹn nhất. Tiếng chuông chiều phá vỡ sự trầm mặc, xóa tan mọi thắc mắc về lẽ được mất. Chân lý hiện hữu trong âm thanh vang vọng, trong phút giây thực tại khi lòng người tĩnh lặng.

“Tháp Sơn Hoài Cổ” là hành trình người đọc tìm về cái gốc của tâm. Khi đứng trước sự đổ nát, con người nhận ra giá trị của sự bình yên. Bài thơ trở thành điểm tựa cho những tâm hồn muốn rũ bỏ gánh nặng của thời gian, tìm về sự an nhiên giữa vòng quay sinh diệt. Mỗi âm thanh vang lên trong bài thơ đều là tiếng nói của sự thức tỉnh, mời gọi con người sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc.

Thanh Ngân

Truyền văn Phật tích tại Linh San,
Cận đắc sơn ông chỉ thử gian,
Ðộng khẩu thiển thâm hoang thảo kính
Tự ngân nồng đậm ấn đài ban,
Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại,
Cấp thủy biên khê tỉnh bất can,
Sắc tức thị không không thị sắc,
Thiền gia đương tác như thị quan.

Bản dịch:

Tương truyền dấu Phật tại Linh Sơn,
Nay được sơn ông chỉ đỉnh non,
Cửa động nông sâu cây cỏ dại,
Chữ mờ phai nhạt dấu rêu mòn.
Ngoài hồ đèn thả, cầu soi bóng,
Bến nước khe trong, chẳng cạn dòng,
Sắc tức thị không, không thị sắc
Thiền gia hiểu thế việc trần gian.
(Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh)

Phật Động Thâm U tựa như một nốt trầm sâu lắng, đưa người đọc rũ bỏ những ồn ào bụi bặm để bước vào hành trình tìm về cõi tịch liêu.

Mở đầu, nữ sĩ đưa ta vào không gian thiền vị bằng lời dẫn đầy tự nhiên: “Truyền văn Phật tích tại Linh San / Cận đắc sơn ông chỉ thử gian”. Nếu “truyền văn” gợi vẻ huyền thoại xa xôi, thì hình ảnh “sơn ông” chỉ lối lại kéo người đọc về với sự gần gũi của miền sơn cước. Người dẫn lối gắn bó cùng núi rừng, để bầu không khí trở nên chân thật. Ở đây, chân lý hiển hiện ngay khi con người tìm về tự nhiên nguyên thủy, lắng nghe sự chỉ dẫn từ những điều bình dị nhất.

Bức tranh thiên nhiên tiếp tục hiện lên qua hình ảnh “cửa động”, “đường cỏ dại” và “dấu rêu mòn”: “Động khẩu thiển thâm hoang thảo kính / Tự ngân nồng đậm ấn đài ban”. Những nét chữ xưa cũ chìm sâu dưới lớp rêu phong chính là hiện thân của tính vô thường. Thời gian khẳng định quyền năng vĩnh hằng khi xóa nhòa dấu tích hữu hình của thánh nhân, nhường chỗ cho vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc của thiên nhiên. Sự phai nhạt của văn tự chính là lúc đạo hiển lộ, đưa lẽ thật của đời sống hòa quyện trọn vẹn vào cảnh vật.

Nhịp điệu bài thơ dần chậm lại, đi sâu vào sự chiêm nghiệm: “Phóng đăng hồ ngoại kiều do tại / Cấp thủy biên khê tỉnh bất can”. Hình ảnh chiếc cầu soi bóng ngoài hồ và cái giếng bên khe nước là biểu tượng cho sự bất biến giữa dòng đời biến động. Dẫu vật đổi sao dời, dẫu đèn thả ngoài hồ tàn đi, sự thanh tịnh trong tâm thức vẫn vẹn nguyên, tràn đầy sức sống. Đó chính là sự tương thông giữa cái hữu hạn của ngoại cảnh và cái vô hạn của nội tâm: khi tâm an, thế giới xoay vần vẫn giữ được sự trong trẻo, tinh khôi của dòng suối trí tuệ đang luân chuyển trong mỗi người.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng tư tưởng cốt lõi của Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức thị không, không thị sắc / Thiền gia đương tác như thị quan”. “Sắc” và “Không” lúc này trở thành hơi thở của vạn vật. Thiền gia tìm thấy Phật ngay trong sự chuyển hóa không ngừng của cái hữu hình và cái vô hình. Đó là thái độ sống thấu suốt sự đời hư ảo để đạt tới sự bình thản tuyệt đối. Khi buông bỏ sự bám víu vào “sắc” hay “không”, con người sẽ chạm đến cõi an nhiên, tự tại.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã biến không gian hang động u tịch thành thánh đường tâm thức, nơi mọi vọng niệm được thanh tẩy bởi sự tĩnh lặng của Linh Sơn. Qua cái nhìn đầy tuệ giác, ta nhận ra Phật hiện hữu trong chính hơi thở nhẹ nhàng của cỏ cây, khe suối, và trong sự thức tỉnh của lòng người giữa cõi thế. Để mỗi cá nhân có thể tự tìm được cho riêng mình một “Phật động” thanh tịnh, nơi bản ngã an yên, hòa nhập vào vũ trụ bao la.

Thanh Ngân

Hồ Xuân Hương 胡春香 (1772-1822) là một thi sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, mà hành trạng hiện vẫn khiến nhiều học giả tranh cãi. Di tác của bà hoàn toàn là thơ, trong đó mảng Nôm có nhiều phẩm chất tốt cần sự khảo cứu lâu, nhưng thi sĩ Xuân Diệu đã tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Hầu hết thi ca Hồ Xuân Hương theo dòng chảy chung đã thoát được các quan niệm sáng tác cố hữu vốn đề cao niêm luật chặt chẽ để bộc lộ được tiếng nói của thời đại mình

Về hành trạng, không có bất cứ tư liệu cổ điển nào chép về lai lịch và hành trạng của Hồ Xuân Hương, bà chỉ thực sự được hậu thế biết đến qua sách Giai nhân dị mặc 佳人遺墨 của học giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ấn hành tại Hà Nội năm 1916. Cũng vì cớ đó, việc có hay không một nhân vật tên Hồ Xuân Hương hiện còn là câu hỏi ngỏ. Học giới nhất quán rằng Hồ Xuân Hương sinh vào năm 1772 ở phường Khán Xuân (nay thuộc địa phận công viên Bách Thảo, Hà Nội). Cũng theo Giai nhân dị mặc, bà là ái nữ của sinh đồ Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786), người hương Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An. Còn theo học giả Trần Thanh Mại, thân phụ của Hồ Xuân Hương là ông Hồ Sĩ Danh 胡士名 (1706-1783) cũng người Quỳnh Đôi, là em cùng cha khác mẹ của Kinh Dương hầu Hồ Sĩ Ðống 胡士棟 (1739-1785). Thân mẫu của Hồ Xuân Hương là bà lẽ Hà thị 何氏 (?-1814) người trấn Hải Dương. Học giả Phạm Trọng Chánh dựa vào tục xướng danh cổ điển và câu tựa “Phi mai xuân sắc nhất kinh thành” 丕梅春色一京成 của Tốn Phong Phan Huy Huân để khẳng định: Hồ Phi Mai 胡丕梅 là nguyên danh, Xuân Hương 春香 là biểu tự và Cổ Nguyệt đường 古月堂 là bút hiệu.

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Tổng biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 255 Thể loại: Truyện ký In

  Tác giả: Đông Di Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Biên tập: Đào Bá Đoàn Số trang: 238 Thể loại: Tản văn In và

THỜI TRĂNG MẬT: ĐỈNH CAO CỦA HẠNH PHÚC ĐƯỢC VIẾT BẰNG NHỮNG TỪ BÌNH DỊ Thơ tình thường tìm đến trăng, hoa, biển rộng, núi

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày mùa hoa văn chương đầu tiên của Nguyễn Thị Thiếu Anh lụi tàn. Cô nữ

Lịch sử không dành cho đôi vợ chồng trẻ quá nhiều thời gian bình yên. Chỉ vài năm sau, Cách mạng tháng Tám bùng nổ,

Trong màn họa thơ với chàng “Vô danh” ở phần trước, Nguyễn Thị Thiếu Anh từng kiêu hãnh tuyên bố: “Thiếu Anh”? Ta thiếu anh