Mặt trời sắp khuất sau núi Chuông. Hoàng hôn đang buông. Những tia nắng cuối ngày đang tắt dần. Hai đứa trẻ chừng 14-15 tuổi đang ngồi bên nhau trên cây thông đổ nghiêng nhìn xuống con đường chạy qua cổng ngôi chùa cổ.

Ở đây vắng quá, không gian thật tĩnh mịch, không có cả tiếng chim kêu. Xung quanh mái chùa và ở các ngọn cây trên quả đồi cao này không thiếu gì chim nhưng chúng chỉ hót vào buổi sáng. Qua trưa chúng đi ngủ sớm hoặc trốn đâu mất cả. Cả ngôi chùa và quả đồi phủ kín cây hoàn toàn u tịch.

Ngôi chùa cổ nằm trên một quả đồi cao. Trước chùa là một mảnh sân nhỏ lát gạch luôn được sư bà quét tước sạch sẽ. Đằng sau chùa là một rừng cây tạp. Cây cối rậm rạp mọc lộn xộn vì không có bàn tay người động tới. Ở những vạt rừng khác gần làng như thế, người dân sẽ kéo đến tìm nấm và chặt củi nhưng ở đây rừng nằm ngay sau chùa họ không dám và sư bà cũng không cho phép vậy nên cây ở đó cứ mọc thoải mái, chen nhau, tùy hứng như chúng muốn. Dây leo đủ loại giăng mắc bum tùm dày hơn mạng nhện. Người ta đồn ở trong khu rừng phía sau chùa này vẫn còn cả hổ. Chẳng biết có thật không nhưng người ta thấy sư bà không hề làm hàng rào ngăn cách ngôi chùa với khu rừng đó và bọn trẻ con chăn bò thi thoảng vẫn thả bò ở gần rừng mà không gặp bất cứ một sự đe dọa nào của chúa sơn lâm. Từ bìa rừng cho tới cổng chùa, thông mọc kín đồi. Cũng không rõ những cây thông đó được người dân nhiều đời trước trồng hay chúng tự mọc từ bao giờ mà thân cây mốc thếch, xù xì với lớp vỏ nứt nẻ đã lớn tầm người lớn ôm mới khít. Có những cây như cây hai đứa trẻ đang ngồi đổ nghiêng vì bão nhưng rễ còn cắm vào lòng đất nên vẫn xanh tốt như thường. Dưới nền đất lá thông rụng dày thành từng lớp. Quả thông lăn lóc khắp nơi. Mùi nhựa thông vương trong gió. Xen kẽ với những bụi sim mua là cỏ tranh và các loài cây bụi lẫn dây leo chen nhau mọc. Những con bò rất thích một loại lá gọi là chua meo mọc ở đây. Bọn trẻ con cũng thích. Chúng thường hái ăn. Những cái lá tròn tròn nho nhỏ có vị chua chua ngọt ngọt lưu lại mãi nơi đầu lưỡi. Bọn bò được vẫy đuôi gặm cỏ, ăn lá ở đây và bọn trẻ được chơi trong cánh rừng thông này là một đặc ân vì người lớn chỉ được sư bà cho phép đi dạo trong sân chùa hay vào chùa thắp hương mà không được dạo chơi vơ vẩn ở trong rừng thông.

Ngôi chùa này là nơi thờ Phật của người dân ở ba làng: Ngạc, Ngò, Giữa nhưng rất nhỏ. Nhìn từ dưới chân đồi lên người ta có cảm giác ngôi chùa chỉ nhỏ như một ngôi nhà ngói ba gian của một gia đình giàu có tầm trung ở trong làng. Sau mảnh sân nhỏ là 7 bậc thềm dẫn lên cửa vào chùa. Mái chùa phủ ngói đã xanh rêu. Khách thập phương nếu bước lên 7 bậc thềm đó để vào chùa sẽ rất ngạc nhiên vì trong chùa không có một pho tượng Phật nào. Một tượng nhỏ cũng không. Cả điện chính và các điện thờ nhỏ hai bên cũng hoàn toàn không có tượng. Trong chùa chỉ có những bát hương cắm đầy những chân hương đặt trên bệ thờ. Ở hai bên cổng chùa cũng không có tượng hay hình Hộ Pháp như các chùa khác thường có. Trong chùa, ở gian giữa, ngay dưới chính điện có khoét một cái vòm trong đặt một chiếc mõ lớn. Sư bà thường tụng kinh gõ mõ ở đó.

Người trong vùng kể rằng ngôi chùa ngày được xây từ thời Lê Trung Hưng dưới thời vua Vĩnh Thịnh. Cả ba làng đều góp tiền xây dựng vì ngôi chùa được đặt trên quả đồi nằm cạnh ngã ba đường nơi tiếp giáp cả ba làng. Ban đầu trong chùa cũng có đầy đủ tượng như bất kì một ngôi chùa nào khác nhưng rồi sau khi làm lễ khai quang điểm nhãn đặt tượng vào chùa thì ba làng liên tục gặp tai ương: người trẻ chết đuối, súc vật đang nuôi tự nhiên lăn đùng ra chết, người già phát điên… Sau một thời gian hoảng loạn những người già nhất của ba làng họp lại và thống nhất rằng ngôi chùa bị động, cần phải đưa toàn bộ tượng Phật ra khỏi ngôi chùa. Sau khi làm lễ, người ta đem toàn bộ tượng ra thả xuống con ngòi chảy dọc bên sườn đồi. Tượng Phật trôi theo con ngòi nhỏ ra sông nhưng đến khúc sông ở làng Hạ thì dạt vào bờ. Người dân làng Hạ hoảng sợ lấy gậy đẩy ra tượng lại dạt vào. Lần nào cũng thế. Thấy điềm lạ, người ta không dám đẩy tượng ra nữa mà làm lễ vớt lên rồi đem đặt vào chùa làng Hạ. Kỳ lạ thay khi đặt tượng vào đây thì mọi việc yên ổn. Người dân ba làng từ đấy yên tâm lo việc cúng bái nhang khói cho chùa. Người ta bảo đấy là do chùa xây trên đất dữ, ngay trên mình con rồng nên không thể thờ tượng. Một số người người khác lại bảo không phải thế chẳng qua là lúc xây chùa các cụ không để ý chuyện ngọn đồi phủ thông xanh vi vút này đã từng là chiến địa vùi chôn hàng trăm người khi triều đình đem quân về dập tắt một cuộc khởi nghĩa nông dân hàng trăm năm về trước. Dù lý giải thế nào, người ta cũng đồng ý rằng không cần đặt tượng vào chùa nữa. Chùa không tượng cũng không có cả sư. Gần hai trăm năm sau khi xây chùa mới có sư bà về đây trông việc nhang khói. Ban đầu khi sư bà mới đến, người dân cũng dò xét không ngừng chứ chưa hẳn đã có ý nhận ngay nhưng rồi vừa chữa bệnh, vừa giúp người dân chuyện tâm linh, sư bà đã làm cho người dân trong ba làng phải phục. Sư bà đã an ủi người dân trong làng khi họ gặp bao nhiêu chuyện buồn đau: bọn giặc Cờ Đen cướp của giết người, quân triều đình đốt làng rồi bắt người dẫn đi biệt tích, con sông hung hãn mùa lụt cướp đi những đứa trẻ ham chơi, những trận đậu mùa quét qua làm chết cả những người khỏe nhất…

Hai đứa trẻ ngồi trên cây thông đổ nghiêng trước cổng chùa từ lúc mặt trời đứng bóng. Hai con bò vẫn ngoan ngoãn gặm cỏ bên sườn đồi. Hai đứa vừa ngồi trên cây nhìn xuống con đường chạy qua cổng chùa vừa rì rầm. Không phải chúng nói chuyện mà chúng đang chơi. Chăn bò suốt một ngày nếu không có trò gì chơi sẽ rất buồn chán. Trước kia, chúng thường bày đủ trò chơi với bọn trẻ nhưng từ quãng nửa năm trở lại đây hai đứa thích được nói chuyện riêng hoặc chơi cùng nhau hơn. Chúng dần dần tách ra khỏi bọn trẻ. Cùng tuổi nhưng thằng bé tên Thường cao hơn cô bé tên Hằng nửa mái đầu.

Hôm nay chúng vẫn ngồi đây chơi mà chưa muốn dong bò về làng vì chúng đang buồn. Chúng có cảm giác buồn bã khó tả khi về làng. Dân làng Ngạc hôm qua vừa làm ma đưa chị Nấm ra đồng. Chị mới lấy chồng tháng trước, hôm kia chị tiễn chồng sang bên kia sông đi làm ăn xa, trên đường về chị bị một chiếc xe bò chở gỗ xuống dốc lao vào giết chết. Cả phần thân thể phía trên của chị nát bấy. Người nhà mang chị về nhưng chức dịch trong làng không cho chị về nhà. Lệ làng xưa nay không cho làm ma người chết đường tại nhà. Nhà chồng buộc phải để chị ở ngôi miếu đầu làng và làm ma ở đó. Tiếng than khóc ai oán không dứt suốt một ngày. Cả hai đứa không có họ hàng gì với chị Nấm nên không phải chít lên đầu một vòng khăn trắng nhưng vẫn đến đưa tiễn chị ra đồng. Nơi chị nằm xuống là một cánh đồng nhìn ra đầm nước. Nơi ấy cỏ mọc lút đầu người nhìn hoang vắng, thê lương não nùng. Mộ chị Nấm đắp xong, hai đứa dong bò ra đây, ngồi trên cây thông đổ nghiêng này. Chúng lặng yên hồi lâu nhìn cánh đồng ngập nước trước cửa chùa. Ở đây chúng có thể ngồi bên nhau cả ngày bình yên vô sự nhưng ở làng chúng phải tránh mặt nhau hoặc có gặp nhau cũng phải ra hiệu chào nhau thật khéo. Hai gia đình cấm chúng không được chơi với nhau. Xưa kia ông nội cậu bé đã từng yêu bà nội cô bé tha thiết mà cuối cùng hôn sự không thành. Cũng không rõ lý do thực sự là gì. Chỉ biết rằng về sau cả hai đều đi lấy người khác ở trong làng. Một người sống ở đầu làng và người kia sống tận cuối làng. Gia đình hai bên cũng cấm con cháu không được chơi với nhau. Nhưng Thường và Hằng rồi vẫn chơi với nhau thân thiết chỉ là chúng biết che giấu trước mặt người lớn để không chuốc thêm phiền muộn. Không rõ sư bà có biết chuyện của hai gia đình không nhưng ở đây hai đứa trẻ được sư bà che chở và chúng có thể ngồi bên nhau hết ngày này qua ngày khác.

Ngày hôm qua chúng đã tranh luận xem ở trong làng có bao nhiêu người khổ đau, bao nhiêu người hạnh phúc. Thường bảo người hạnh phúc trong làng nhiều hơn và kể ra không biết bao nhiêu người đang có cuộc sống đủ đầy, sung sướng. Hằng lại bảo thực tế thì người đau khổ nhiều hơn, tính sơ sơ trong làng cũng phải đến hơn cả trăm người bao gồm cả ông bà nội hai đứa.

Hôm nay suốt cả ngày hai đứa lên đây thả cho bò gặm cỏ và vẫn nói mãi về chuyện ấy. Khi nhìn thấy những hòn sỏi rơi lăn lóc nơi sân chùa, Thường liền nghĩ ra một trò chơi. Chúng nhìn nhau, thì thào rồi vụt chạy về nhà. Hai đứa kiếm được hai cái bình sứ lớn và giấy bút. Chúng đặt hai chiếc bình cạnh nhau ở ngay trước cổng chùa, chỗ con đường lớn đi qua. Ở ngay phía trên cổng chùa khép hờ, chúng dán tờ giấy trên có dòng chữ: “Nếu là người hạnh phúc hãy bỏ một viên sỏi vào bình màu xanh. Nếu là người đau khổ hãy bỏ một viên sỏi vào bình màu đen. Nam mô A Di Đà Phật”. Mấy chữ “Nam mô A Di Đà Phật” là sáng kiến của Hằng vì nó thấy ai lên chùa cầu khấn gì xong cũng vái và nói câu như thế. Ở gần chỗ hai cái bình chúng để sẵn một đống sỏi lớn được lựa chọn cẩn thận.

Việc chuẩn bị đã xong chúng ngồi trên cây thông nhìn xuống đường quan sát những người khách qua lại cổng chùa. Một số người đứng rất lâu nhìn dòng chữ và hai cái bình cùng đống sỏi rồi lặng lẽ bỏ đi. Có người nhìn dòng chữ, nhặt sỏi bỏ vào bình xong còn cúi đầu bái vọng lên chùa. Cũng có người vừa bỏ sỏi vào bình xong đã vụt chạy như có ai đuổi đánh.

Những tia nắng cuối ngày rực lên lần cuối.

Hai đứa trẻ nhảy xuống khỏi cây thông chạy lại cổng chùa. Thằng bé cầm bình trắng lên xóc nhẹ. Tiếng sỏi va vào thành bình kênh lanh canh. Hai đứa quỳ xuống, đổ những viên sỏi trong bình ra đếm cẩn thận. Bình trắng có 3 mà bình đen có tới tận 7. Như thế Hằng là người thắng vì cô bé bảo ở làng nhìn đâu cũng thấy những người đau khổ. Nhưng Thường không chịu. Cậu bảo biết đâu hôm nay đi qua đây chỉ toàn những người đang có tâm trạng không vui. Cậu đề nghị thả những viên sỏi đã nhận được vào bình và để lại qua đêm. Đến trưa hôm sau hãy đến đếm lại một lần nữa. Cô bé đồng ý. Con đường này dẫn tới bến đò, đi qua đò sang bên kia sông là chợ. Người ở đây thường đi chợ bên đó từ rất sớm. Có người gánh hàng đi chợ từ lúc nửa đêm. Chợ bên đó họp vào các ngày 1, 3, 6, 8 hàng tháng. Hôm nay là mùng bảy ngày mai mùng tám đúng ngày phiên chợ. Hai chiếc bình chứa sỏi được để lại vào chỗ cũ.

Khi hai đứa dong bò về đến cổng làng mặt trời đã lặn. Nhiều nhà đã lên đèn. Khói bếp bốc lên từ các mái nhà quện vào nhau như một màn sương mờ ảo.

***

Hôm sau, buổi sáng hai đứa hẹn nhau dong bò đi chăn ở nơi khác. Đến trưa chúng cùng đuổi bò lên đồi thông nơi có ngôi chùa. Quấn dây thừng lên đầu bò xong, chúng chạy như bay xuống cổng chùa, quỳ xuống và cẩn thận nhấc bình lên. Bình nặng như thể sỏi đã nằm chật trong bình. Không rõ người đi qua bỏ sỏi vào lúc đêm hay buổi sáng. Chúng mang bình lên tận sân chùa đổ ra sân và ngồi đếm.

Một!

Hai!

Ba!

Bốn!

Năm!

Từng viên sỏi được nhặt lên và thả lại vào trong bình.

Đếm xong chúng đưa mắt nhìn nhau.

Và cả hai lại hối hả đếm lại một lần nữa. Lần này chúng vừa dốc sỏi ra khỏi bình vừa đếm thật cẩn thận từng viên. Mỗi viên đếm xong được để vào một cái vòng tròn được vẽ trên sân chùa.

Mỗi bình đúng 50 viên!

Không thể nào nhầm được.

Chúng nhìn nhau kinh ngạc.

Thế là hòa! Không ai thắng ai. Cô bé rất vui, mắt lấp lánh nhưng cậu bé cũng chẳng buồn. Chúng đập tay vào nhau rồi cậu bé đi trước, cô bé đi sau ôm bình trở lại chỗ cây thông đổ nghiêng nhìn xuống con đường trước cổng chùa.

Hôm nay dường như lũ trẻ trong làng bận đi đâu cả, trên đồi thông chỉ có hai con bò ung dung gặm cỏ.

Hai đứa trẻ mải đi không hề biết ở phía sau, sư bà đứng bên cửa chùa nhìn theo chúng mãi.

Nguyễn Quốc Vương